Vì sao thế giới không phẳng? PDF. In Email
Thứ hai, 12 Tháng 7 2010 00:48

Sau sự kiện 11/9/2001, cuốn sách của Samuel Huntington Sự va chạm của các nền văn minh có vẻ như đã đoán trước những gì sẽ xảy ra. Toàn cầu hóa đã kéo con người, các quốc gia và thị trường xích lại gần nhau hơn bao giờ hết và đặt dấu chấm hết cho các đường biên giới quốc gia - đó là điều mà chúng ta thường được nghe. Nhưng nhìn kỹ hơn vào số liệu, chúng ta sẽ thấy, chỉ có một phần rất nhỏ của thế giới đang hội nhập theo cách hiểu của chúng ta. Trên thực tế, hơn 90% các cuộc điện thoại và lượt truy cập vào các trang web cũng như dòng đầu tư đều được thực hiện trong nội địa. Không những thế, toàn cầu hóa ở mức độ nhỏ vẫn có thể bị dạt đi.

 


Ý tưởng thì luôn phát tán nhanh hơn, vượt qua những đường biên giới. Các nước nghèo sẽ có thể nhanh chóng tiếp cận những thông tin mà trước đây chỉ giới hạn trong các nước công nghiệp phát triển và ít khi vượt ra khỏi khu vực này. Toàn bộ cử tri sẽ được biết những điều mà trước đây chỉ có một số quan chức biết. Các công ty nhỏ sẽ cung cấp những dịch vụ mà trước đây chỉ những tập đoàn lớn mới có thể làm được.

Về tất cả các phương diện này, cách mạng viễn thông thật sự mang tính dân chủ, giải phóng và cân bằng sự chênh lệch giữa lớn và bé, giàu và nghèo. Một viễn cảnh toàn cầu mà Frances Cairncross đã dự đoán trong quyển sách Cái chết của khoảng cách (Death of Distance) có vẻ đang hiện ra trước mặt chúng ta. Dường như chúng ta đang trong sống trong một thế giới không còn như trước, nghĩa là chỉ bao gồm các quốc gia riêng biệt, bị chia rẽ bởi hàng rào thuế quan chắc chắn, hệ thống viễn thông lạc hậu và nghi ngờ lẫn nhau.

Theo những người phất cờ ủng hộ toàn cầu hóa, thế giới nói trên đang ngày càng liên kết, hiểu biết lẫn nhau và có thể nói rằng nó đang trở nên “phẳng”.

Quan điểm này nghe rất lọt tai. Và nếu những xu hướng trong ngành xuất bản có thể nói lên điều gì, thì toàn cầu hóa còn hơn cả một cuộc chuyển biến mạnh mẽ về chính trị và kinh tế; đó là một nền công nghiệp đang bùng nổ. Theo thống kê của Thư viện Quốc hội Mỹ, trong những năm 1990 có khoảng 500 cuốn sách viết về toàn cầu hóa được xuất bản. Từ 2000 - 2004, con số này lên tới hơn 4000. Trên thực tế, giữa thập nhiên 1990 và 2003, cứ 18 tháng số tài liệu liên quan tới toàn cầu hóa lại tăng với tỉ lệ gấp đôi.

Giữa hàng loạt các đầu sách, rất nhiều cuốn về chủ đề này đã thu hút được sự chú ý đặc biệt. Trong một cuộc phỏng vấn trên truyền hình gần đây, câu hỏi đầu tiên mà tôi bị hỏi khá sốt sắng là tại sao tôi vẫn cho rằng thế giới này tròn. Tất nhiên người phỏng vấn đang đề cập tới quan điểm của cây bút bình luận của tờ New York Times, Thomas L.Friedman, trong cuốn sách Thế giới phẳng.

Friedman tuyên bố rằng có 10 động lực – chủ yếu có tác dụng thúc đẩy sự kết nối và hợp tác vượt khoảng cách - đang làm cho thế giới phẳng và mở ra một sân chơi cho sự cạnh tranh toàn cầu, một bối cảnh mà thế giới chưa bao giờ trải qua.

Điều đó nghe rất có vẻ rất thuyết phục. Nhưng điều Friedman khẳng định chỉ đơn thuần là viễn cảnh mới nhất trong hàng loạt các viễn cảnh được thổi phồng, trong đó bao gồm sự “chấm dứt của lịch sử” và sự “hội tụ các quan điểm”. Một số tác giả theo trào lưu này này cho rằng toàn cầu hóa là điều tốt – một sự giải thoát khỏi các rạn nứt bộ lạc thời cổ đại đã chia rẽ con người, hay một cơ hội để bán một thứ cho tất cả mọi người trên trái đất. Một số người khác cho rằng nó đang phát tán như bệnh ung thư, một quá trình mà điểm kết của nó là tất cả mọi người đều ăn đồ ăn nhanh giống nhau.

Những lý luận của họ hầu hết mang tính cảm giác hơn là lý trí, dựa vào tiên đoán, ký hiệu hóa mọi thứ, coi công nghệ là đầu tàu thay đổi, nhấn mạnh rằng giáo dục sẽ tạo ra những con người "mới", và có thể trên tất cả, đó là sự hò hét để thu hút sự chú ý. Nhưng họ có một điểm chung: Tất cả họ đều sai.

Trên thực tế, thế giới không liên kết sát tới cái mức các học giả kia muốn chúng ta tin. Bất chấp các cuộc tranh luận về một thế giới mới liên kết chặt chẽ, nơi thông tin, tư tưởng, tiền bạc và con người có thể di chuyển xung quanh hành tinh nhanh hơn trước đây, vẫn chỉ tồn tại một phần nhỏ mà chúng ta có thể coi là toàn cầu hóa thực sự. Nhìn vào bối cảnh trong đó các công ty, con người và các quốc gia trao đổi qua lại, thì đây chỉ là một thế giới mới bắt đầu nhận ra tiềm năng của sự hội nhập toàn cầu thực sự. Và những người ủng hộ xu hướng này sẽ không nói với bạn rằng tương lai của toàn cầu hóa mỏng manh hơn bạn nghĩ.

10 phần trăm giả định

Chỉ có vài thành phố đang chi phối hoạt động tài chính thế giới - Frankfurt, Hong Kong, London, New York - là đạt được đỉnh cao của hội nhập toàn cầu hiện đại; điều này có thể hiểu rằng các thành phố này đang kết nối với nhau tương đối tốt. Nhưng nếu nhìn lại những con số, chúng ta sẽ thấy sự kết nối chặt chẽ lại là ở cấp độ địa phương, không phải một thế giới phẳng. Những con số thống kê đó nói lên những gì? Hầu hết các loại hoạt động kinh tế được tiến hành trong hay ngoài đường biên giới vẫn tập trung nhiều vào nội địa.

Một trong những câu cửa miệng của những người ủng hộ toàn cầu hóa là “không có biên giới đối với đầu tư”. Nhưng có bao nhiêu vốn đang được đầu tư trên toàn thế giới là do các công ty đầu tư ra nước ngoài? Sự thực là, tổng số vốn trên thế giới tạo ra từ nguồn vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) trong 3 năm qua (2003-05) chưa đạt đến 10%. Nói một cách khác, hơn 90% đầu tư cố định trên thế giới vẫn từ nguồn vốn trong nước. Dù đã có những đợt sóng liên kết doanh nghiệp đẩy tỷ lệ này lên cao, nó vẫn chưa bao giờ đạt được 20%.

Trong một môi trường toàn cầu hóa mạnh mẽ, chúng ta trông đợi một con số cao hơn thế nhiều, khoảng 90% theo tính toán của tôi. Và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ là một ví dụ lạc lõng, hay không tiêu biểu.

Như biểu đồ trên chỉ ra, các mức độ quốc tế hóa gắn liền với việc di cư qua biên giới - các cuộc gọi điện thoại, quản lý giáo dục và nghiên cứu, các khoản từ thiện cá nhân, việc cấp bằng sáng chế, đầu từ chứng khoán và thương mại - chỉ chiếm có một phần nhỏ so với tổng sản lượng nội địa (GDP), tất cả chỉ đạt gần 10% thay vì 100%. Một ngoại lệ lớn nhất - tỷ lệ thương mại với GDP- cũng chỉ quanh quẩn con số 20% nếu bạn điều chỉnh một số phép tính nhất định. Vậy, nếu ai đó bảo tôi đoán mức độ quốc tế hóa của một số hoạt động mà tôi không có thông tin chắc chắn, tôi sẽ cho rằng nó chỉ quay xung quanh con số 10% - tỷ lệ trung bình của 9 loại còn lại trong bảng thống kê. Tôi gọi nó là “10% giả định”.

Nói một cách rộng hơn, những con số này và một số số liệu khác về hội nhập vẽ ra một bức tranh bán toàn cầu hóa trong đó cầu nối và rào cản đều không thể bỏ qua được. Từ góc độ này, một trong những khía cạnh ngạc nhiên nhất của rất nhiều sách vở viết về toàn cầu hóa đó là mức độ tâng bốc của chúng. Tóm lại, các mức độ quốc tế hóa trên thế giới ngày hôm nay vẫn còn thấp hơn nhiều so với những gì mà những người ủng hộ toàn cầu hóa nói đến.

Bảo hộ mạnh mẽ

Nếu các bạn nghe theo quan điểm của những người cổ động cho toàn cầu hóa, bạn sẽ nhìn một thế giới mà đường biên giới quốc gia không còn ý nghĩa, còn các công dân thì ngày càng cho mình là thành viên của một thực thể chính trị lớn hơn.

Đúng là công nghệ thông tin đã phát triển nhanh chóng trong vòng 100 năm qua. Giá cước một cuộc cú điện thoại dài 3 phút từ New York tới London giảm từ 350 USD năm 1930 xuống khoảng 40 cent năm 1999, và bây giờ nó gần như miễn phí với các cuộc gọi qua internet. Và chínhinternet cũng chỉ là một trong rất nhiều kiểu kết nối gần đây đã phát triển nhanh hơn dịch vụ điện thoại rất nhiều lần. Mức độ phát triển đã tạo điều kiện cho những tuyên bố nóng hổi về bước tiến của toàn cầu hóa.

Nhưng việc dự đoán những tiến bộ, cho rằng việc giảm giá cước viễn thông sẽ xóa bỏ được khoảng cách, cũng còn phải vượt qua một bước nhảy vọt lớn nữa. Tuy các rào cản biên giới đã suy giảm tương đối nhiều, chúng vẫn chưa hề biến mất.

Để biết tại sao, chúng ta nhìn vào ngành công nghệ phần mềm của Ấn Độ - một ví dụ mà Friedman và nhiều người khác thích nhất. Friedman lấy dẫn chứng của Nandan Nilekani, chủ tịch tập đoàn Infosy, lớn thứ 2 thế giới về lĩnh vực này, để chứng minh quan điểm của một thế giới phẳng. Nhưng chính Nilekani đã từng nói riêng rằng vì các lập trình viên người Ấn Độ làm việc cho công ty Mỹ tại Ấn Độ, nên sự truy cập được đảm bảo, một phần do vốn đầu tư của Mỹ - theo nghĩa đen - để có được kết quả đó. Nói một cách khác, sự thành công của ngành công nghệ thông tin Ấn Độ không thể vượt lên trên các rào cản về chính trị và địa chính trị. Nguồn gốc của một quốc gia vẫn quan trọng - thậm trí đối với cả vốn đầu tư, thường được cho là không có biên giới.

Hay xem xét tập đoàn phần mềm lớn nhất của Ấn Độ, Dịch vụ tư vấn Tata (Tata consultancy Service - TCS). Friedman đã viết ít nhất hai lần trên tờ New York Times về hoạt động của công ty TCS tại Nam Mỹ: “Trong thế giới hôm nay, việc có một công ty Ấn Độ do một người Uruguay gốc Hungary điều hành, phục vụ ngân hàng của Mỹ với các kỹ sư người Montevide do các chuyên viên kỹ thuật người Ấn Độ đã học được cách ăn rau của người Uruguay, quản lý là chuyện bình thường”, Friedman viết.

Rất có thể. Nhưng câu hỏi thật sự ở đây là tại sao công ty lại xây dựng mạng lưới hoạt động ở đó. Với kinh nghiệm làm cố vấn cho tập đoàn TCS từ năm 2000, tôi có thể bảo chứng rằng lý do đằng sau nó liên quan nhiều tới sự cố định của múi giờ, ngôn ngữ và sự cần thiết của việc ở gần khách hàng. Điều này khác nhiều so với sự kêu gào của những người ủng hộ toàn cầu hóa trong đó địa lý, ngôn ngữ và khoảng cách không có ý nghĩa gì.

Các dòng chảy thương mại sẽ chứng minh giả thuyết này là đúng. Hãy xem thương mại giữa Mỹ và Canada , mối quan hệ thương mại song phương lớn nhất thế giới. Năm 1988, trước khi hiệp định tự do thương mại khối Bắc Mỹ (NAFTA) bắt đầu có hiệu lực, thương mại giữa 2 bang của Canada - chỉ trong nước - ước tính lớn gấp 20 lần so với thương mại với một bang ở Mỹ cùng độ lớn và khoảng cách. Nói cách khác, có một sự “thiên vị người nhà”. Mặc dù NAFTA đã làm giảm tỉ lệ giữa thương mại nội địa và quốc tế - tức là sự thiên vị này - từ 10 xuống 1 vào giữa những năm 1990, thì đến nay tỉ lệ đó lại là 5 lần. Và tỉ lệ này là hợp lý cho việc trao đổi thương mại; đối với dịch vụ, tỉ lệ vẫn còn cao hơn rất nhiều lần. Rõ ràng là biên giới trong một “thế giới dường như không có biên giới” vẫn còn hết sức quan trọng đối với hầu hết các quốc gia.

Các đường biên giới địa lý quá mạnh mẽ, thậm chí chúng còn được thiết lập trên mạng. Nếu có một khu vực nào đó mà trong đó các đường biên giới bị biến thành vô nghĩa và các nhà ủng hộ toàn cầu hóa sẽ đúng khi nói đến các mô hình quá lạc quan, thì đó là trên mạng Internet. Tuy nhiên, giao lưu giữa các trang web trong một nước hay trong một khu vực đã phát triển nhanh hơn rất nhiều so với giao lưu giữa quốc gia này với quốc gia khác. Cũng như trong thế giới thật, liện hệ qua Internet giảm xuống khi mà khoảng cách tăng lên. Con người trên thế giới có thể được liên kết tốt hơn nhưng họ không kết nối giữa người này và người khác. Trung bình một người sử dụng mạng ở Hàn Quốc có thể ngồi hàng tiếng đồng hồ trên mạng mỗi ngày – trên lý thuyết được kết nối với toàn thế giới – nhưng anh ta sẽ chat với bạn bè cùng thành phố hay gửi thư điện tử cho gia đình ở trong nước hơn là giao lưu với một người khác ở Los Angeles. Chúng ta kết nối tốt hơn, nhưng không "toàn cầu hơn".

Chỉ nhìn vào Google, họ tuyên bố ủng hộ hơn 100 ngôn ngữ và do đó đã trở thành một trang web toàn cầu hóa nhất. Nhưng hoạt động của Google ở Nga (quê hương của người cùng sáng lập Sergey Brin) chỉ đạt được 28% thị trường so với 64% thị trường của hệ thống tìm kiếm hàng đầu của Nga, Yandex, và 53% của Rambler.

Thật ra 2 cỗ máy cạnh tranh trong nước chiếm 91% thị trường Nga về quảng cáo trên mạng nối với các trang web tìm kiếm. Điều gì đã làm cho Google lúng túng ở Nga? Nguyên nhân lớn nhất là khó khăn trong thiết kế một cố máy tìm kiếm có thể giải quyết được sự phức tạp về ngôn ngữ của tiếng Nga.

Bên cạnh đó, những đối thủ cạnh tranh trong nước này hiểu biết hơn về thị trường Nga, ví dụ việc phát triển cách trả tiền thông qua các ngân hàng truyền thống thay vì hệ thống tín dụng ít ỏi. Và mặc dù Google đã tăng lưu lượng lên gấp đôi từ 2003, họ vẫn phải mở văn phòng ở Moscow và thuê kỹ sư phần mềm người Nga, điều này chứng tỏ tầm quan trọng của địa phương. Thậm trí bây giờ, biên giới giữa các quốc gia quyết định – và ngăn cản - sự di chuyển của chúng ta nhiều hơn sự dỡ bỏ nó bởi sự toàn cầu hóa.

Quay ngược đồng hồ

Nếu toàn cầu hóa là một thuật ngữ không chính xác so với bối cảnh hội nhập hiện tại, vẫn có một sự kháng biện mạnh mẽ: Nếu thế giới không phẳng ngày hôm nay, ngày mai nó sẽ phẳng. Để đáp lại, chúng ta phải nhìn vào các hướng phát triển thay vì vào các mức độ hội nhập ở một thời điểm nhất định. Kết quả tương đối đáng chú ý. Ở một số khía cạnh, hội nhập đã đạt tới đỉnh cao nhiều năm trước đây. Ví dụ, theo một vài ước tính có tới 3% dân số thế giới di cư vào năm 1900 – trong khi đó con số đó là 2,9 % vào năm 2005.

Ở các khía cạnh khác, đúng là có những kỷ lục mới. Nhưng sự tăng trưởng này cũng chỉ xảy ra gần đây, chỉ sau một thời gian dài đứng yên và đi thụt lùi. Ví dụ cổ phần vốn đầu tư chia bình quân theo GDP đạt tới đỉnh điểm trước chiến tranh thế giới lần thứ I và chỉ tới những năm 1990 đỉnh cao này mới được lặp lại. Nhiều nhà kinh tế đã cho rằng giai đoạn phát triển thịnh vượng kéo dài nhất là thời gian giữa 2 cuộc thế chiến, khi mức độ quốc tế hoá giảm xuống. Mặc dù có những kỷ lục mới nhưng mực độ thương mại hiện tại vẫn còn xa mới hoàn thiện, như thương mại giữa Mỹ và Canada . Trên thực tế, khi mà những nhà kinh tế thương mại nhìn vào những con số này, họ ngạc nhiên không phải vì số lượng lớn mà vì nó quá bé.

Cũng cần thiết phải nhìn lại động lực lớn mà những nhà ủng hộ toàn cầu hóa nhận định rằng hàng loạt các chính sách thay đổi đã tạo điều kiện cho các quốc gia - đặc biệt là Trung Quốc, Ấn Độ và Liên Xô cũ – có thể hoạt động trong nền kinh tế thế giới nhiều hơn. Jeffrey Sachs và Andrew Warner cung cấp cho chúng ta một trong những nghiên cứu kỹ về sự thay đổi những chính sách này và kết quả của chúng:

“Những năm giữa 1970 và 1995, đặc biệt trong thập kỷ cuối cùng, chúng ta thấy một sự hòa hợp mạnh mẽ các thể chế và hội nhập kinh tế giữa các quốc gia trong lịch sử thế giới. Trong khi sự hội nhập kinh tế phát triển trong suốt những năm 70 và 80, mức độ hội nhập đã thăng thiên sau sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa năm 1989. Năm 1995, một hệ thống kinh tế toàn cầu lớn đang hình thành”.

Đúng, sự mở cửa chính sách đó rất quan trọng. Nhưng nếu cho chúng là một sự thay đổi lớn thì cũng không chính xác. Nhìn lại 10% giả định, và sự hội nhập mới chỉ bắt đầu. Đáng ngạc nhiên là những luật lệ mà chúng ta coi là không thể nào thay đổi được lại có thể đảo lộn. Như cuốn sách Sự kết thúc của lịch sử (The end of History) của Francis Fukuyama nói tới sự chiến thắng của chủ nghĩa tư bản - với động cơ là sự dân chủ tự do và phát triển kĩ thuật - trước các hệ tư tưởng khác. Ngày hôm nay sự khẳng định này trở nên rất mờ nhạt.

Sau sự kiện 11/9/2001, cuốn sách của Samuel Huntington Sự va chạm của các nền văn minh có vẻ như đã đoán trước những gì sẽ xảy ra. Nhưng nếu nhìn vào các vấn đề kinh tế như Sachs và Warner, chúng ta sẽ thấy những bằng chứng ngược lại so với tính đáng ra phải quả quyết của các chính sách mở cửa.

Cái gọi là Thỏa thuận Washington xung quanh các chính sách gần gũi với thị trường đã vấp váp trong cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á năm 1997 và từ đó đến nay đã suy yếu đi rất nhiều – ví dụ, sự nổi lên của chủ nghĩa dân túy kiểu mới ở phần lớn khu vực Mỹ Latinh. Nếu dùng các thuật ngữ kinh tế, hàng loạt các nước - ở Mỹ Latin, ven biển châu Phi, và các nước vốn thuộc Liên Xô cũ – đã ra khỏi “câu lạc bộ tụ điểm” (Convergence club – nói đến việc xóa dần khoảng cách về cơ cấu và khả năng sản xuất so với các quốc gia phát triển) nhiều không kém gì số các quốc gia mới gia nhập.

Ở mức độ đa phương, việc tạm dừng vòng đàm phán thương mại Doha vào mùa hè năm 2006 – sự kiện khiến tờ Economist chạy một tít ở trang bìa “Tương lai của toàn cầu hóa” với hình ảnh một chiếc tàu hỏng đang bị mắc cạn – đánh dấu một tương lai không sáng sủa lắm. Thêm vào đó, đợt sóng liên doanh và sát nhập giữa các công ty của các quốc gia khác nhau gần đây dường như đang phải đối mặt với chủ nghĩa bảo hộ lớn hơn so với những năm cuối thập nhiên 90.

Tuy nhiên, với việc suy nghĩ về các khía cạnh này đã thay đổi trong vòng 10 năm qua, rất có thể sẽ có một sự thay đổi nữa trong thập kỷ tới. Điểm đáng nói ở đây đó là không những có thể quay lại thời gian của những chính sách gần gũi với toàn cầu hóa mà việc đó còn tương đối dễ dàng xảy ra. Nói một cách cụ thể, chúng ta phải công nhận khả năng rằng việc hội nhập kinh tế thế giới sẽ không đi đôi với chủ quyền quốc gia - đặc biệt trong xu hướng các cử tri ở nhiều quốc gia, kể cả các quốc gia phát triển ủng hộ chủ nghĩa bảo hộ ngày càng nhiều.

Như Jeff Immelt, Chủ tịch tập đoàn GE (General Electric), nói hồi cuối năm 2006, “Nếu bạn đưa vấn đề toàn cầu hóa ra để bỏ phiếu, nó sẽ thất bại”. Và thậm chí nếu việc hội nhập giữa các quốc gia tiếp tục tiếp bước, con đường của nó từ đây sẽ không phẳng và thẳng nữa. Sẽ có những cú sốc và những vòng tròn luẩn quẩn, và rất có thể sẽ có một giai đoạn đình trệ hay đi thụt lùi kéo dài hàng thập kỷ. Điều đó không phải là chưa được báo trước.

Những nhà ủng hộ toàn cầu hóa đang miêu tả một thế giới không tồn tại. Nó là một chiến lược tuyệt vời để bán sách và ngay cả khi miêu tả một không gian tiềm năng sẽ có thể tồn tại trong tương lai. Bởi vì những viễn cảnh mơ tưởng như thế có chiều hướng kết thúc sớm thậm chí ngay cả khi chúng đi ra được đến quốc lộ, chúng ta có thể liều đợi kết quả của xu hướng này. Nhưng cái giá phải trả cho nó là rất cao. Những chính phủ đi theo xu hướng thế giới phẳng rất có thể tập trung quá nhiều vào “chiếc áo bó vàng” mà Friedman nhấn mạnh trong cuốn sách trước, Chiếc Lexus và cây ôliu, trong đó đáng ra phải đẩy mạnh các vấn đề kinh tế và giảm các vấn đề chính trị.

Đi theo viễn cảnh của một thế giới hội nhập – hay tồi tệ hơn, dùng nó làm nền tảng xây dựng các chính sách – không những không có hiệu quả. Nó còn rất nguy hiểm.

Pankaj Ghemawat
Tạp chí Chính sách đối ngoại

Mai Linh (biên dịch)

-------------------------------