Thương mại toàn cầu hay sự lầm tưởng của lãnh đạo chính trị - Phần 1 PDF. In Email
Thứ hai, 12 Tháng 7 2010 21:08

Lịch sử của những hội nghị thương mại gần đây - từ Seattle tới Doha, Cancun và Hông Kông - đã cho thấy dấu hiệu của hệ thống thương mại toàn cầu đang có vấn đề. Đằng sau hàng loạt sự bất bình là những bằng chứng cụ thể và các giả thuyết, trong đó có cả sai lầm, hữu ý hoặc vô tình, của những nhà lãnh đạo chính trị. Bài viết của Giáo sư Joseph Stiglitz (*) - nhà kinh tế học đoạt giải Nobel 2001.

 

Bằng chứng: Sự sắp đặt kinh tế hiện tại đẩy người nghèo vào chỗ bí hơn. Mức thuế đối với hàng nhập khẩu mà các nước công nghiệp phát triển đặt ra đối với các nước đang phát triển cao hơn 4 lần so với chiều ngược lại.

Trên thực tế, vòng đàm phán thương mại Uruguay đã làm cho các quốc gia nghèo nhất trở nên nghèo hơn. Trong khi các nước đang phát triển bị ép phải mở thị trường của mình và chấm dứt việc trợ giá thì các nước công nghiệp phát triển tiếp tục trợ giá nông nghiệp và giữ vững hàng rào thuế quan đối với những sản phẩm chính của các nền kinh tế đang phát triển.

Chính những cơ cấu thuế quan đang được ký kết đã cản trở các nước đang phát triển có thể tiến dần tới các sản phẩm có giá trị cao hơn - chuyển đổi từ việc sản xuất hàng nông nghiệp sơ chế tới các loại thực phẩm đã được chế biến. Khi mà thuế quan được hạ thấp xuống thì Mỹ lại đẩy mạnh việc sử dụng các biện pháp khác không liên qụan đến thuế quan để bảo hộ nền kinh tế của mình. Các hiệp định thương mại không xóa bỏ bản chất của việc bảo hộ hay sự hăng hái của chính phủ trong việc bảo vệ lợi ích của người sản xuất hay công nhân của mình.

Giả thuyết: Sự tự do hóa thương mại sẽ dẫn tới việc phát triển kinh tế, có lợi cho tất cả các bên. Đây là câu nói cửa miệng đang rất phổ biến. Các nhà lãnh đạo chính trị rất hăng say trong tự do hóa thương mại. Những người mà không có cùng quan điểm bị liệt vào hạng chậm tiến, đang ngược lại với lịch sử.

Vậy nhưng có một thực tế rằng, nhiều người dù đã bị toàn cầu hóa làm cho đau đớn song lại nói ngược lại trong những tuyên bố của mình. Hay nói một cách chính xác hơn, việc chỉ ra quá trình "tự do hóa"- qua việc xem xét chi tiết của những hiệp định thương mại- lại thấy rất nhiều cái khác biệt.

Việc Mexico đã trở nên tồi tệ hơn dưới NAFTA (Hiệp định tự do thương mại khối Bắc Mỹ) đã không chứng minh lợi ích của việc tự do hóa. Nếu mà có một hiệp định tự do thương mại thực sự thì nó chắc đã phải dẫn tới sự tăng trưởng bởi vì thị trường lớn nhất của thế giới đã được mở cửa cho Mexico. Nhưng sự tăng trưởng trong một thập kỷ từ khi ký hiệp định còn thấp hơn so với những thập kỷ trước 1980, và những người nghèo nhất của đất nước-những nông dân trồng ngô- chính là những người bị tác động tiêu cực nhất do sự trợ giá của ngô Mỹ.

Bằng chứng của vấn đề này - tính kinh tế của sự tự do hóa thương mại - thực ra phức tạp hơn rất nhiều so với những bức tranh mà các nhà lãnh đạo chính trị đã vẽ ra.

Có những trường hợp sự tự do hóa thương mại đem lại lợi ích to lớn - khi mà có thị trường may rủi vững vàng, tỷ lệ thất nghiệp thấp và khi nền kinh tế đã trưởng thành. Nhưng các nước đang phát triển lại không có những điều kiện này. Nếu nền kinh tế có nhiều công việc thì một người công nhân mất việc có thể nhanh chóng tìm được một công việc khác; và việc chuyển đổi từ những ngành có hiệu suất thấp được bảo hộ tới những ngành có hiệu xuất cao để xuất khẩu sẽ dẫn tới sự tăng trưởng và tăng tiền công.

Nhưng nếu tỷ lệ thất nghiệp cao, một người công nhân mất việc sẽ rơi vào tình trạng không có việc. Việc chuyển đổi từ ngành có hiệu suất thấp, được bảo vệ tới một cái vực thất nghiệp sẽ không dẫn tới sự tăng trưởng mà đẩy mạnh sự nghèo đói. Sự tự do hóa có thể đặt các quốc gia trước những rủi ro lớn, và những nước nghèo- đặc biệt là những người nghèo- không có những sự chuẩn bị để đối mặt với chúng.

Có lẽ điều quan trọng nhất, sự phát triển thành công cũng đồng nghĩa với việc chuyển hóa từ ngành truyền thống, năng suất thấp tới những ngành kinh tế hiện đại với hiệu suất tăng trưởng cao. Nhưng nếu không được bảo hộ, các nước đang phát triển sẽ không thể cạnh tranh trong các ngành kinh tế hiện đại. Họ bị trói buộc vào khu vực phát triển chậm của nền kinh tế toàn cầu.

Hàn Quốc hiểu điều này. 35 năm trước đây, những người ủng hộ tự do thương mại chủ yếu khuyên Hàn Quốc nên tập trung vào việc trồng lúa. Nhưng Hàn Quốc biết rằng cho dù có thành công trong việc nâng cao năng suất sản xuất lúa, họ vẫn chỉ là một nước nghèo. Họ phải tiến hành công nghiệp hóa.

Chúng ta hiểu như thế nào về những công trình nghiên cứu hay được nhắc đi nhắc lại cho rằng các quốc gia tự do hóa thương mại có tộc độ phát triển nhanh hơn? Nhưng bỏ qua hàng loạt những vấn đề về việc thống kê mà hầu hết các nghiên cứu "xuyên quốc gia" đều mắc phải. Chúng đều chỉ ra rằng những quốc gia buôn bán thương mại nhiều phát triển nhiều hơn.

Những nghiên cứu tập trung thẳng vào sự tự do hóa thương mại - hay nói cách khác cái gì sẽ xảy ra khi những quốc gia này bỏ đi những rào cản thuế quan - lại cho rằng bức tranh tự do hóa thương mại sẽ dẫn tới phát triển là rất kém thuyết phục.

Nhưng chúng ta biết rằng những quốc gia trên thế giới đã phát phát triển nhanh nhất: những quốc gia ở Đông Á, và sự tăng trưởng của họ dựa trên nền thương mại xuất khẩu. Họ không theo đuổi chính sách tự do thương mại không giới hạn. Trên thực tế, họ tích cực can thiệp vào thị trường để khuyến khích xuất khẩu, và chỉ bỏ các rào cản thuế quan khi mà xuất khẩu hàng hóa của họ tăng. Họ tránh khỏi những hố sâu mà như đã nói ở trên những cá nhân bị chuyển từ ngành kinh tế năng xuất thấp sang không có năng xuất qua việc duy trì nền kinh tế của mình ở mức gần như không có sự thất nghiệp.

Điểm đáng nói ở đây đó là không có một quốc gia nào tiếp cận tự do hóa thương mại như một khái niệm trừu tượng mà nó có thể hay không có thể theo đuổi vì sự tốt đẹp của thế giới. Mỗi quốc gia đều muốn biết: đối với một quốc gia với một tỷ lệ thất nghiệp và những đặc điểm nhất định, liệu tự do hóa thương mại sẽ đem lại sự phát triển nhanh hơn?

 

Kinh tế và chính trị trong cuộc tranh giành quyền lợi

Nếu như kinh tế phức tạp thì chính trị lại hết sức đơn giản. Những cuộc đàm phán thương mại là chiến trường cho các quyền lợi đặc biệt. Chương trình của họ cũng hết sức rõ ràng: những nhà xuất khẩu muốn người khác phải mở của thị trường; những người sẽ bị đe dọa bởi sự cạnh tranh thì không muốn. Những nhà đàm phán thương mại chẳng quan tâm mấy tới nguyên tắc (mặc dụ họ cố gắng để che giấu vị trí của họ dưới tấm áo khoác nguyên tắc). Họ tập trung vào phiếu bầu và sự đóng góp cho chiến dịch vận động bầu cử.

Ví dụ trong hầu hết các cuộc đàm phán thương mại gần đây, rất nhiều sự chú ý tới sự bảo hộ nền nông nghiệp của các quốc gia phát triển - sự tồn tại của sự bảo hộ là do quyền lực lớn nằm trong tay lĩnh vực kinh tế nông nghiệp này.

Chủ nghĩa bảo hộ như vậy đã trở thành biểu tượng của đạo đức giả của phương Tây trong khi giảng đạo về tự do hóa thương mại lại làm theo một cái khác. Khoảng 25,000 người nông dân Mỹ giàu có, dựa vào sự trợ cấp của chính phủ về bông, chia nhau khoảng 3 đến 4 tỷ đô la Mỹ một năm, làm tăng sản xuất và hạ giá thành.

Sự thiệt hại mà sự trợ cấp kia gâp ra đối với khoảng 10 triệu người nông dân trồng bông đang sống thoi thóp ở Châu Phi (dưới sa mạc Sahara) là rất lớn. Vậy mà Mỹ có vẻ sẵng sàng đặt lợi ích của 25,000 nông dân của mình lên trên hệ thống thương mại toàn cầu và cuộc sống của hàng triệu người ở các quốc gia đang phát triển. Cũng dễ hiểu nếu như những người ở khu vực đang phát triển trở nên giận dữ.

Sự giận dữ này càng trở nên mãnh liệt bởi thái độ rất đáng nghi ngờ khi "quảng cáo" những đề nghị của họ. Ví dụ, tại một hội nghị ở Hồng Kông, một đại diện thương mại của Mỹ đề nghị xóa bỏ các rào cản về nhập khẩu bông nhưng lại từ chối bất cứ cái gì về sự trợ cấp của mình. Nhờ có sự trợ cấp này mà bông sợi Mỹ có thể xuất khẩu.

Khi mà một quốc gia có thể xuất khẩu một mặt hàng nào đó thì sự nhập khẩu mặt hàng đó vào cũng không gây ra nhiều sự khác biệt. Mỹ- với sự phô trương lòe loẹt của mình - đã đưa ra một đề nghị chẳng có giá trị gì đối với các quốc gia đang phát triển và nhiếc móc họ đã không nhận lấy lời đề nghị "hào phóng" này.

Trong nước, chính quyền Bush có thể làm việc vất vả để cung cấp thuốc giá rẻ cho người dân. Trong các cuộc đàm phán thương mại, Mỹ lại đứng về phe các nhà sản xuất thuốc yêu cầu việc bảo vệ luật bản quyền, thậm chí việc bảo vệ này sẽ dẫn tới cái chết không cần thiết của hàng trăm nghìn người không đủ tiền mua thuốc với giá độc quyền và cũng không được cứu chữa nếu như không có thuốc sinh học

(Còn nữa)
Joseph Stiglitz

Nguồn: Social Justice and Global Trade, tạp chí Kinh tế Viễn Đông, 3/2006
(Tít chính và các tít dẫn cho Lanhdao.net đặt lại)
Mai Linh (biên dịch)

-----------------

 

* Vài nét về tác giả:

Giáo sư Joseph Stiglitz, sinh năm 1943, người Mỹ.

Sau khi lấy bằng tiến sĩ tại Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) năm 1967, ông trở thành giáo sư của trường Đại học Yale năm 1970. Năm 1979 ông giành được giải thưởng John Bates Clark, giải thưởng hai năm một lần do Hiệp hội Kinh tế Hoa Kỳ trao tặng cho những nhà kinh tế tuổi dưới 40 có những đóng góp to lớn trong lĩnh vực này.

Ông từng dạy và làm việc tại nhiều trường đại học danh tiếng khác như: Đại học Princeton, Stanford, MIT, Drummond, Oxford.

Hiện giờ, ông là giáo sư tại Đại học Columbia ở New York. Năm 2001, ông đoạt giải Nobel về kinh tế.

Hai trong số những công trình nổi bật nhất của ông là cuốn "Toàn cầu hóa và những điều bất bình của nó" (Globalization and Its Discontents, 2001, đã được dịch ra 35 thứ tiếng với hơn 1 triệu bản) và "Để cho toàn cầu hoá thành hiện thực" (Making Globalization Work, 2006).

Ông từng là thành viên Hội đồng Cố vấn Kinh tế Hoa Kỳ từ năm 1993 đến 1995, giữ cương vị Chủ tịch Hội đồng này từ năm 1995 đến năm 1997. Từ năm 1997 đến 2000, ông là Chuyên gia Kinh tế trưởng và Phó Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB). Với cương vị này, ông là một trong số ít người có được góc nhìn cận cảnh về sự vận hành của nền kinh tế thế giới với chiếc áo khoác ‘toàn cầu’.

Lịch sử đã nhanh chóng khẳng định sự ảnh hưởng to lớn của giáo sư Joseph Stiglitz đối với nền kinh tế chính trị trên thế giới từ cuối thập niên 90 đến nay. Giải thưởng Nobel kinh tế năm 2001 cũng chỉ là một trong rất nhiều các giải thưởng, huân chương ông được các quốc gia, các viện nghiên cứu, các tổ chức trao tặng trên toàn thế giới.

Nhờ các công trình nghiên cứu của ông, những người ‘thường dân’ có thể nhìn thấy những lỗ hổng quan trọng trong bánh quay của sự toàn cầu hóa. Đặc biệt những phê bình của ông đối với 2 tổ chức tài chính thế giới-Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) đã làm thức tỉnh nhiều quốc gia đang lên men say với những biến chuyển trên chính trường hiện tại.