| Các cường quốc - nhân tố vãn hồi hoà bình châu Á |
|
|
|
| Chủ nhật, 11 Tháng 7 2010 08:35 |
|
Châu Á đang tiếp tục được trông đợi sẽ trở thành tâm điểm của thế giới trong thế kỷ này, nhưng để biến điều đó thành hiện thực, GS Huge White cho rằng lịch sử châu Âu thế kỷ 19 cần phải được coi là hình mẫu... Một kỷ nguyên mới…Kỷ nguyên của chúng ta là kỷ nguyên hoà bình ở châu Á. Kể từ năm 1979 đến nay, chưa xảy ra xung đột quân sự lớn nào mà có sự tham gia của bất kỳ cường quốc nào ở Tây Thái Bình Dương. Châu Á ngày nay, với tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và cách mạng chính trị, là kết quả trực tiếp của thực tế đáng chú ý đó. Nếu như không có hoà bình và ổn định giữa các quốc gia, chúng ta đã không thể có được sự thịnh vượng hôm nay. Chúng ta sẽ không thể nhắc đến Thế kỷ Châu Á với mức độ hội nhập kinh tế chưa từng thấy và ý thức về chủ nghĩa khu vực Châu Á ngày càng mạnh mẽ. Vì thế, có lẽ sẽ là cẩn trọng khi đặt ra câu hỏi: “Liệu một phần tư thế kỷ tới đây sẽ hoà bình như 25 năm vừa qua không? Hay là nó lại giống như ba phần tư đầu của thế kỷ 20, khi châu Á bị tàn phá và kiệt quệ bởi những xung đột lớn giữa các cường quốc? Và cần phải làm gì để đảm bảo rằng điều đó không xảy ra? Chúng ta cần phải bắt đầu bằng việc công nhận rằng hoà bình trong 25 năm vừa qua không tự nhiên mà có. Đó là kết quả của một sự kết hợp ngẫu nhiên giữa tình hình phân chia quyền lực và liên kết về lợi ích giữa các cường quốc châu Á, và do đó tạo ra “một hệ thống chiến lược” ổn định. Hệ thống chiến lược đó hiện đang chịu áp lực bởi sự tăng trưởng của Châu Á đã thay đổi cách thức vận hành về mặt chiến lược của khu vực. Sự chuyển đổi kinh tế sẽ tạo ra sự chuyển đổi về chiến lược. Điều đó có nghĩa là chúng ta không thể cho rằng các nhân tố giữ cho hoà bình ở châu Á trong suốt 25 năm qua sẽ tiếp tục vai trò đó trong tương lai. Trên thực tế, chúng ta đang bước vào giai đoạn còn mới mẻ. Trong xu thế hiện nay, thế kỷ châu Á sẽ là một thế kỷ mà trong đó các vấn đề chiến lược bị chi phối và quyết định bởi một loạt những cường quốc có sức mạnh ngang bằng một cách tương đối: rõ ràng nhất là Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ, có lẽ cả Nga, và một ngày nào đó biết đâu sẽ là Indonesia? Châu Á chưa bao giờ đối mặt với tình trạng như vậy. Chúng ta chưa bao giờ chứng kiến một hệ thống chiến lược ở châu Á mà bao gồm một loạt những cường quốc công nghiệp chủ yếu với sức mạnh tương đối ngang bằng như vậy, với sự tăng trưởng của Trung Quốc và Ấn Độ cùng với sự chuyển đổi chậm nhưng vững chắc của Nhật Bản thành một cường quốc bình thường. Câu hỏi là liệu tất cả những sức mạnh mới này sẽ được kiểm soát như thế nào? …sẽ đi về đâu… Với tư cách là một khu vực, chúng ta chưa bao giờ thực sự giải quyết câu hỏi đó. Sự chuyển đổi chiến lược của châu Á dường như là một xu hướng lịch sử quan trọng nhất của thời đại chúng ta, nhưng nó lại chỉ thu hút được sự chú ý ít hơn mức cần thiết, bởi 3 lí do. Thứ nhất, chúng ta đã quá bận tâm với những thách thức an ninh phi quốc gia (phi truyền thống) nghiêm trọng đang tồn tại trong thời kỳ sau Chiến tranh lạnh, đặc biệt là sau sự kiện 11/9. Người ta đã dễ dàng quên đi rằng những thách thức an ninh phi quốc gia, dù cho có nghiêm trọng đến đâu, thì cũng trở nên mờ nhạt trước sự tàn phá và huỷ hoại do xung đột giữa các cường quốc gây ra, và thách thức Bin Laden gây ra đối với hệ thống quốc tế cũng không so sánh được với những thách thức do quá trình chuyển đổi kinh tế và chiến lược của châu Á mang lại. Thứ hai, chúng ta đã bị mê hoặc bởi hiện tượng sức mạnh Mỹ. Bởi vì đó là quốc gia hùng mạnh nhất trên trái đất này, với khoảng cách chưa từng có so với các cường quốc khác, nên người ta cũng dễ cho rằng Mỹ sẽ có khả năng định hình hệ thống quốc tế và quyết định các vấn đề quốc tế ở châu Á. Chính vì thế nhiều người đã trông đợi rằng các cường quốc đang lên ở châu Á sẽ được kiểm soát và bình định bởi sức mạnh thống trị của Mỹ. Tôi mong rằng điều đó sẽ được chứng minh là đúng. Một khu vực do Mỹ kiểm soát có thể sẽ không hoàn hảo, nhưng dường như nó sẽ tốt hơn rất nhiều so với những lựa chọn khác. Trên thực tế nếu chúng ta không may mắn lắm, hoặc không sáng dạ lắm, hoặc là cả hai, thì thậm chí nhiều người hiện nay đang có tâm lý chống Mỹ có thể lại hồi tưởng một cách đầy tiếc nuối “khoảnh khắc đơn cực” của thế giới trong đó Mỹ dường như có sứ mệnh thống trị Thế kỷ Châu Á. Không may mắn thay, đó là một khoảnh khắc, và đã trôi qua. Địa vị đứng đầu của Mỹ cuối cùng cũng sẽ phụ thuộc vào hoặc là sức mạnh vượt trội, hoặc là sự đồng thuận. Nước Mỹ ngày nay không thể đủ sức mạnh để áp đặt địa vị thống trị của mình bằng vũ lực, và Trung Quốc thì cũng mạnh và không thể chấp nhận địa vị thống trị của Mỹ bằng đồng thuận. Nước Mỹ có sức mạnh vượt trội duy nhất, và có thể cũng có sức thuyết phục duy nhất, nhưng cả sức mạnh và sức thuyết phục đều giới hạn về nhiều mặt. Quân đội Mỹ có khả năng chưa từng có trong việc triển khai một số loại hình lực lượng ở châu Á, đặc biệt là trên không và trên biển, nhưng cũng sẽ phải đối mặt với những chi phí và rủi ro khi làm như vậy, khi mà các lực lượng chống đối có thể dùng tàu ngầm tấn công sân bay của Mỹ một cách mạnh mẽ hơn. Và lực lượng lục quân của Mỹ, thậm chí ngay cả khi không phải bận làm nhiệm vụ ở Iraq, thì cũng hầu như không mang lại phương tiện chiến lược gì mấy để chống lại các cường quốc châu Á khác. Sức mạnh kinh tế của Mỹ vẫn còn rất lớn, nhưng không mang lại cho Washington nhiều ảnh hưởng ở châu Á, bởi vì các thương vụ của Mỹ ở đó là yếu tố quyết định cho sự thịnh vượng và sức mạnh của chính nước Mỹ. Mỹ cần Trung Quốc cũng như Trung Quốc cần Mỹ vậy. Không thể có đòn bẩy theo bất cứ cách nào, mà chỉ tồn tại sự cân bằng tạm thời mà thôi. Đương nhiên Mỹ có thể duy trì địa vị một chủ thể chính ở châu Á, và tất cả chúng ta nên hi vọng thế. Nhưng sức mạnh của Mỹ bản thân nó cũng sẽ không định hình một châu Á mới mà sẽ nổi lên trong những thập niên tới đây. Đó là lí do tại sao kiến trúc chiến lược của châu Á mới sẽ được định hình bởi sự tương tác giữa Mỹ và các cường quốc ở châu Á với nhau. Và tại đây xuất hiện lí do thứ ba khiến chúng ta đã không chú ý đúng mức đến tương lai chiến lược của châu Á. Chúng ta đã tin một cách dễ dàng rằng toàn cầu hoá và thậm chí là những xu hướng hội nhập khu vực mạnh mẽ hơn ở chính châu Á, đã xua đi những bóng ma cũ của nền chính trị quốc tế. Vậy việc cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia theo cách cũ liệu có ý nghĩa gì không, khi mà sự tăng trưởng kinh tế, nguồn lực của tất cả sức mạnh mới này, hoàn toàn dựa vào việc duy trì hợp tác? Tất nhiên điều này có thể cuối cùng lại chính xác. Có lẽ chúng ta, hoặc con cháu của chúng ta đến giữa thế kỷ này sẽ nhìn lại và thấy được một kỷ nguyên hoà bình và thịnh vượng khác ở châu Á, giống như thời kỳ chúng ta vừa trải qua. Chúng ta cần hi vọng điều đó sẽ xảy ra. Nhưng thật là không khôn ngoan khi cho rằng những thập niên tới đây sẽ hoà bình chỉ bởi những thập niên vừa qua là như vậy. Đương nhiên những dân tộc ở châu Á và các nhà lãnh đạo của họ có mọi lí do để mong muốn hoà bình, và chẳng ai muốn chiến tranh. Nhưng điều đó lại luôn xảy ra trong những kỷ nguyên quá khứ, và chiến tranh vẫn nổ ra. Lập luận rằng toàn cầu hoá khiến cho chiến tranh trở nên quá hao tiền tốn của và vì thế không thể xảy ra sai lầm ở chỗ chiến tranh luôn tiêu tốn nhiều hơn giá trị thực của nó. Vậy thì thực sự điều gì đã thay đổi? Để có thể nghĩ rằng nguy cơ xảy ra bạo lực giữa các nước lớn ngày nay thấp hơn so với trong quá khứ, chúng ta sẽ cần phải tin tưởng rằng nhân loại và hệ thống quốc tế đã thay đổi một cách sâu sắc trong vài năm sau khi kết thúc chiến tranh lạnh. Nhưng cũng không có đủ bằng chứng cho kết luận đó. Sự sợ hãi, niềm kiêu hãnh và sự tham lam - những động cơ chiến tranh cũ, như Thucydides là người đầu tiên đã chỉ ra, vẫn hiện hữu bởi vì chúng luôn tồn tại trong các vấn đề đối nội của các quốc gia, và chúng càng tạo điều kiện cho một chủ nghĩa dân tộc đang lan rộng hơn bao giờ hết ở châu Á. Thật rắc rối đối với những người lạc quan, và thật buồn cho tất cả chúng ta là những nhà nước châu Á đã phát triển mạnh dựa trên toàn cầu hoá vẫn đang tiếp tục hành xử và suy nghĩ rất giống với những quốc gia-dân tộc trước kia. Điều đó không khiến cho chiến tranh trở thành điều hiển nhiên như quan điểm của một số người. Có một trường phái tư tưởng, đặc biệt ở Mỹ, cho rằng sự trỗi dậy của những cường quốc mới như Trung Quốc tạo ra những căng thẳng trong hệ thống quốc tế mà theo như quy luật của lịch sử, phải được giải quyết bằng chiến tranh. Điều này quá ảm đạm. Những lợi ích rõ ràng mà tất cả các quốc gia đều có khi có hoà bình, những bất lợi lớn mà mọi người đều phải chịu đựng nếu như khu vực rơi vào cạnh tranh chiến lược triền miên, chưa kể đến chiến tranh, và nhận thức tốt của các nhà lãnh đạo của các cường quốc đều cho thấy rằng châu Á có thể điều chỉnh một cách hoà bình trước sự trỗi dậy của các cường quốc mới. Chiến tranh giữa các cường quốc ở châu Á không là điều đương nhiên, nhưng cũng không phải là điều không thể. Mà đó là một nguy cơ cần phải được công nhận, phân tích, hiểu rõ và kiềm chế. Làm sao chúng ta làm được điều đó? Trong những vấn đề chiến lược, lịch sử luôn là sự chỉ dẫn tốt nhất. Chỉ có duy nhất một tiền lệ cho một nhóm các quốc gia công nghiệp có sức mạnh tương đương nhau cùng chung sống trong hoà bình tương đối trong hàng thập niên liên tục, và đó là châu Âu trong thế kỷ 19. Nhưng chúng ta cần phải cẩn trọng trong việc áp dụng những giải pháp của châu Ấu cho các vấn đề của châu Á, nhưng “hoà hợp quyền lực” của châu Âu có thể mang lại định hướng tốt nhất để chúng ta có thể tìm ra cách thức kiềm chế những nguy cơ xung đột trong Thế kỷ châu Á. Sau các cuộc chiến tranh Napoleon, những cường quốc châu Âu đều chấp nhận là mỗi nước sẽ mất nhiều hơn là được nếu xảy ra tình trạng chia rẽ trong hệ thống quốc tế. Để tránh xung đột, họ thiết lập thói quen thoả hiệp và dàn xếp với những chia rẽ sâu sắc về chính trị và hệ tư tưởng, mỗi nước đều tìm cách có được sự thống trị hoặc là để duy trì hoà bình. Và điều đó đã đạt được hiệu quả trong hàng trăm năm, từ 1815 cho đến 1914. Nó thậm chí còn tạo điều kiện cho sức mạnh đang lên của Đức cho đến tận sau thời Bismarck, khi mà những tham vọng của nước này phá vỡ hệ thống. Đương nhiên lúc đó hoà bình của châu Âu thường có vẻ mong manh, và thậm chí là bây giờ khi nhìn lại, chúng ta có thể thấy được là toàn bộ hệ thống đã đứng trước nguy hiểm và phức tạp như thế nào. Nhưng hệ thống đó đã có hiệu quả, và chúng ta cũng không có ví dụ về một hệ thống nào có hiệu quả cao hơn trong những trường hợp tương tự như những gì chúng ta có thể sẽ phải đối mặt trong Thế kỷ châu Á. … còn phụ thuộc vào những cường quốc! Liệu chúng ta có thể có một hệ thống như vậy và hoạt động có hiệu quả ở châu Á trong những thập niên tới đây không? Điều quan trọng là cần phải thử, bởi nếu chúng ta chấp nhận rằng vai trò thống trị không bị thách thức của Mỹ là không thể duy trì được, những giải pháp thay thế cho một châu Á hoà hợp đều khá khắc nghiệt. Những giải pháp này bao gồm chủ nghĩa bá quyền của một trong các cường quốc châu Á, mà nhiều khả năng nhất là Trung Quốc. Hoặc là cạnh tranh chiến lược không giới hạn giữa Mỹ và Trung Quốc. Hoặc một khả năng ít xảy ra hơn, nhưng không có nghĩa là không thể, đó là việc Mỹ rút lui khỏi châu Á, để cho Nhật Bản, Trung Quốc và có thể là Ấn Độ cạnh tranh với nhau để giành quyền lực và ảnh hưởng - giống như châu Âu trong thế kỷ 17 và thế kỷ 20. Vậy cần phải làm gì để tránh những rủi ro này và xây dựng một châu Á hoà hợp lâu dài? Những diễn đàn như APEC hay Hội nghị cấp cao Đông Á có thể được xem như một sự khởi đầu đầy hứa hẹn, nhưng nền tảng cho hoà bình lâu dài cần phải được tạo dựng một cách sâu sắc hơn nhiều. Dựa trên kinh nghiệm của châu Âu, nền tảng quan trọng nhất là sự chấp nhận của mỗi cường quốc trước tầm quan trọng hơn cả của việc gìn giữ hoà bình, và do đó là sự sẵn lòng tuyệt đối trong việc tôn trọng những lợi ích, thể chế và các giá trị của tất cả các cường quốc khác. Điều này nghe có vẻ dễ, nhưng trên thực tế có thể sẽ thực sự khó khăn. Chúng ta có thể thấy nó khó khăn đến chừng nào khi xem xét điều đó có nghĩa gì đối với hai chủ thể chiến lược lớn nhất của khu vực là Mỹ và Trung Quốc. Đối với Mỹ, câu hỏi lớn nhất là liệu Mỹ có đồng ý chia sẻ vai trò lãnh đạo châu Á với các cường quốc khác trong khu vực, và học cách chấp nhận và tôn trọng lợi ích của họ hay không? Chúng ta không thể cho rằng câu trả lời là có, bởi vì chúng ta đang đặt câu hỏi cho rất nhiều người Mỹ. Trong quan hệ đối ngoại của Mỹ chưa bao giờ có một cách tiếp cận như vậy: Nước Mỹ chưa bao giờ hành xử nhất quán với tư cách là một thành viên của hệ thống chiến lược giữa các quốc gia bình đẳng. Ở bán cầu Tây, Mỹ đã là một bá quyền ôn hoà; trong thế giới rộng lớn hơn, Mỹ vừa là lãnh đạo, vừa là kẻ thù. Hơn nữa, sự phản đối của Mỹ trước lòng khoan dung và sự thoả hiệp cần thiết để quản lý một trạng thái hoà hợp quyền lực có nguyên nhân sâu xa từ triết lý chính trị của họ. Truyền thống chủ nghĩa biệt lệ coi nước Mỹ là đặc biệt và ngoại lệ, chứ không phải chỉ là một nhà nước trong một cộng đồng những nước bình đẳng với nhau. Cuộc đấu tranh để hoà giải quan điểm này với thực tại của chính trị thế giới đã là một trong những chủ đề lớn của lịch sử nước Mỹ, và nhu cầu của Mỹ đối với việc hợp tác với các nhà nước khác đã được bảo vệ bởi các nhân vật quan trọng như George Kennan và Henry Kissinger. Nhưng căn nguyên của chủ nghĩa biệt lệ đã ăn sâu vào văn hoá chính trị của Mỹ, và cho đến ngày nay nó vẫn mạnh mẽ như trước đây, và trong những năm vừa qua lại được củng cố bởi chiến thắng trong Chiến tranh lạnh và bởi những thăng trầm trong cuộc chiến chống khủng bố. Để tham gia vào Hoà hợp châu Á, Mỹ sẽ cần phải thay đổi một cách căn bản. Một sự thay đổi như vậy thật khó chấp nhận đối với người Mỹ, bởi vì rất ít người nghĩ rằng thay đổi đó là cần thiết hay đáng có, đặc biệt là trong quan hệ với Trung Quốc. Tôi tin rằng hầu hết người Mỹ vẫn cho rằng nước Mỹ có sức mạnh để duy trì địa vị thống trị không bị thách thức ở châu Á, và họ sẽ thách thức việc thoả hiệp với một đất nước như Trung Quốc, vốn có những giá trị và thể chế rất khác so với Mỹ. Có một câu hỏi thực tế là liệu người Mỹ có tin rằng họ có thể sống trong hoà bình và hoà hợp với một đất nước mà không chia sẻ những giá trị Mỹ và không có những thể chế chính trị tương đồng với Mỹ. Bất chấp những lời đảm bảo trong các bài phát biểu, ví dụ như của cựu thứ trưởng ngoại giao Mỹ Robert Zoellick, người đã mô tả quan điểm của ông về Trung Quốc như là “một cổ đông có trách nhiệm” trong trật tự khu vực châu Á, người Mỹ vẫn có xu hướng coi hệ thống chính trị Trung Quốc cũng như sự khẳng định vai trò đi đầu của nước này trong các vấn đề khu vực là không hợp pháp. Vậy thì rốt cuộc là cụm từ “cố đông có trách nhiệm” có thực sự dành cho Trung Quốc hay không? Liệu có phải nước Mỹ không muốn coi tất cả các nước ở châu Á là những cổ đông có trách nhiệm? Nếu như vậy thì Mỹ sẽ nhìn Trung Quốc khác với Mông Cổ hay Australia như thế nào? Những lời của ngài Zoellick vẫn còn khác xa so với việc thừa nhận Trung Quốc với sự tôn trọng mà một thành viên của Hoà hợp quyền lực cần phải đối xử với các thành viên khác. Và đâu là những cơ hội cho sự thay đổi này trong những năm tới? Liệu có ứng cử viên nào trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm tới dám nói với người Mỹ rằng trong những thập niên tới nước Mỹ cần phải học cách đối xử với Trung Quốc như là một nước bình đẳng cần được tôn trọng? Và liệu có ai nghĩ rằng Trung Quốc nên bằng lòng với những thứ khiêm tốn hơn không? Nhưng các chính sách của Trung Quốc cũng đặt ra những câu hỏi nghiêm túc về khả năng tồn tại của một châu Á hoà hợp? Hiện nay có vẻ như Trung Quốc tôn trọng thực tế về sức mạnh của Mỹ, và chấp nhận đối mặt với những mối quan tâm và lợi ích của Mỹ. Do đó, về phần mình, cách tiếp cận của Trung Quốc đối với Mỹ dường như đáp ứng được nhu cầu của một châu Á hoà hợp. Nhưng cách tiếp cận của Trung Quốc đối với Nhật thì lại không như vậy, đặc biệt trước
|




