| Việt Nam phải lên kế hoạch cất cánh cho chính mình - Phần 1: Những chẩn đoán |
|
|
|
| Thứ ba, 13 Tháng 7 2010 09:13 |
|
Chiến lược này cùng với chi tiêu mạnh mẽ của chính phủ dành cho cơ sở hạ tầng đã mang lại những kết quả hết sức tốt đẹp trong 20 năm đổi mới vừa qua. Việt Nam hiện đang chứng kiến làn sóng đầu tư chưa từng thấy kể từ năm 1997. Vào năm 2004 và 2005 tăng trưởng trong đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) so với năm trước đó đạt mức 41% và 50%. Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (vốn cam kết cho tới hết năm 2006) hiện đạt mức gần 60 tỷ đôla Mỹ, trong khi đó tổng vốn thực hiện cho tới cuối năm 2005 là khoảng 35 tỷ đô la. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong năm năm qua đã đạt mức trung bình 7.5%. Đây là mức cao nhất trong các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN, nhưng so với khu vực Đông Á thì lại xếp sau Trung Quốc. Thu nhập bình quân đầu người hiện đạt 640 đô la Mỹ. Nghèo đói tuyệt đối đang giảm, trong khi đó, khoảng cách trong thu nhập lại gia tăng. Giá đất ở trung tâm Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đang ở mức cao nhất Đông Á. Du lịch nước ngoài đã vượt xa du lịch trong nước, và nhu cầu đối với các hàng hoá tiêu dùng thì vô kể, đặc biệt với những chuyến đi mua sắm nước ngoài của người giàu. Đóng góp của cả hai ngành chế tạo và dịch vụ trong GDP đã tăng lên đến mức trên 70%, và mỗi ngành này đều có mức đóng góp cao hơn ngành nông nghiệp vốn được trông đợi là sẽ giảm xuống còn 20% vào năm 2020. Tương đồng nhưng vẫn khác biệt Điều cốt yếu trong chiến lược thành công của Việt Nam là cải cách kinh tế đặt lên hàng đầu, sau đó là cải cách hành chính, và cuối cùng mới là cải cách chính trị. Cũng giống như những người đồng nhiệm Trung Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam tin tưởng rằng những thành tích về kinh tế sẽ là trụ cột quan trọng cho tính hợp pháp của mình, cho phép Đảng dẹp đi những mối quan ngại về thiếu vắng cải cách chính trị. Bằng cách vẫn giữ cho Đảng Cộng sản Việt Nam có trách nhiệm và khởi động những thay đổi dân chủ tự do, sự ổn định chính trị đạt được nhờ đó đã tạo ra một môi trường dễ dự báo cho các hoạt động kinh doanh trong và ngoài nước. Tuy nhiên, chiến lược không cân xứng này đã tạo ra những thay đổi cơ bản về kinh tế xã hội mà hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa cần phải lí giải và biện minh. Dĩ nhiên, câu nói đùa của người Trung Quốc “đèn hiệu bên trái nhưng rẽ bên phải” nhìn chung vẫn được áp dụng cho cả hai nước. Cả hai đều vẫn đang phải gánh chịu những yếu kém của một khu vực nhà nước mà hầu hết đều do ngân sách nhà nước, một phần đóng góp to lớn của nhà nước vào GDP, hỗ trợ. Nhà nước vẫn điều khiển các hoạt động kinh tế và nếu như những hoạt động kinh tế đó làm ảnh hưởng tới quyền lực chính trị tối cao của Đảng thì điều không tránh khỏi là tốc độ tăng trưởng kinh tế bị kìm hãm lại. Ngoài ra, cả hai nước đều phải hứng chịu tệ tham nhũng. Công thức chủ yếu cho sự thành công mà Việt Nam và Trung Quốc có được trong đầu tư trực tiếp nước ngoài chính là giá nhân công rẻ cũng như thị trường nội địa rộng lớn luôn sẵn sàng cho sự xâm nhập từ bên ngoài. Sức mạnh của những lợi thế cạnh tranh này, nhất là khi đem so sánh Việt Nam và Trung Quốc với những thành viên ban đầu của ASEAN (như Brunei, Indonesia, Malaysia, the Philippines, Singapore and Thái Lan), lại phần nào trở nên mờ nhạt hơn khi chúng ta so sánh Việt Nam chỉ với Trung Quốc thôi. Dù thế nào thì hai nước này cũng là những nền kinh tế cạnh tranh. Tuy không sản xuất những mặt hàng hoàn toàn trùng lặp, nhwng cơ cấu chi phí trong sản xuất hàng hoá của họ là tương tự nhau, trong đó Trung Quốc có lợi thế hơn do thị trường rộng hơn, và do đó dẫn đến chi phí sản xuất thấp hơn cho các nhà sản xuất Trung Quốc. Việt Nam để thành công được trong thời đại trỗi dậy của Trung Quốc, cần phải phân biệt mình với Trung Quốc, dù cho sự noi theo Trung Quốc trong quá khứ cũng đã mang lại cho nước này vị thế con rồng đang phát triển như hiện nay. Việt Nam sẽ phải vạch ra kế hoạch “cất cánh” cho chính mình. Câu hỏi là: Liệu có làm được? Một kế hoạch cất cánh cho Việt Nam Thứ nhất, quản lý ở Việt Nam - cả về chính trị và kinh tế, cần phải linh hoạt và minh bạch hơn nhiều so với Trung Quốc. Bởi chắc chắn rằng, các nước lớn thường khó kiểm soát hơn các nước nhỏ. Vì thế, Việt Nam, với tư cách là một quốc gia tương đối nhỏ, không thể có lí do để không làm tốt điều này. Đơn giản là: Quản lý tốt sẽ thu hút đầu tư. Giống như Trung Quốc, Việt Nam bị cản trở bởi nhiều năm quan liêu xã hội chủ nghĩa. Theo như những thăm dò của chính phủ, viên chức nhà nước đang được trả lương thấp hơn so với mức sống trung bình. Đặc biệt, chính phủ cần phải hết sức quan tâm tới việc đảm bảo giải ngân nhanh chóng các nguồn đầu tư nước ngoài đã cam kết, hiện đang ở mức gấp đôi so với lượng vốn thực hiện. Thứ hai, Việt Nam cần đảm bảo rằng những lợi thế tương đối trong một nền kinh tế thị trường nằm ở những lĩnh vực cụ thể mà không nhằm vào các thị trường một cách ồ ạt giống như cách mà lợi thế tương đối của Trung Quốc hướng tới. Chế biến nông sản là một ví dụ điển hình. Rất nhiều sản phẩm nông sản của Việt Nam có sự khác biệt căn bản so với những sản phẩm của Trung Quốc. Nông nghiệp dù đang hoạt động rất tốt, và có vẻ như sẽ được lợi từ việc Việt Nam gia nhập WTO, lại đang suy giảm. Tăng trưởng trong khu vực nông và ngư nghiệp chỉ đạt 4% trong vòng năm năm qua, so với mức tăng 7% của dịch vụ và trên 10% của công nghiệp và xây dựng. Có hai ngành công nghiệp chế tạo mà Việt Nam cần phải phát triển để vượt qua Trung Quốc. Trong ngành công nghiệp điện và điện tử, mác hàng “Made in China" (Sản xuất tại Trung Quốc) vẫn đặt ra sự nghi vấn trong suy nghĩ của nhiều nhà tiêu dùng trên toàn thế giới, bởi rất nhiều trong số đó cho là hàng của Trung Quốc kém về chất lượng. Việt Nam cần phải tận dụng điều này bằng cách nỗ lực để sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng tốt, từ mức trung bình đến mức cao. Công ty điện tử Canon của Nhật Bản có vẻ như tin tưởng nhất vào điều này khi họ đã tăng gần gấp đôi đầu tư vào Việt Nam trong những năm gần đây. Vào tháng 11/2006, Intel đã tuyên bố kế hoạch tăng đầu tư vào Việt Nam lên mức 1 tỷ đô la, trong khi cam kết của họ hồi tháng 2/2006 là 300 triệu đô. Nhà sản xuất chip điện tử này sẽ xây dựng một nhà máy gần Thành phố Hồ Chí Minh, dự kiến năm 2009 sẽ đi vào sản xuất. Trong khi rất ít người hi vọng Việt Nam sẽ tạo ra những nhảy vọt về thứ bậc dựa trên động lực từ bên trong, có thể có lí khi rất nhiều tập đoàn đa quốc gia sẽ sẵn sàng đề nghị giúp đỡ Việt Nam, đặc biệt nếu như Việt Nam đóng vai trò như một điểm tránh rủi ro tập trung cho họ (vì các tập đoàn hiện đang tập trung đầu tư vào Trung Quốc). Ngay lập tức sau động thái của Intel, Bill Gates đã quyết định đến Việt Nam để tận mắt chứng kiến những cơ hội mà nước này mang lại, và lần này là ngành công nghiệp phần mềm. Đây là ngành công nghiệp gia tăng giá trị cao thứ hai mà Việt Nam có lợi thế tương đối. Việc sử dụng bảng chữ cái Latinh trong tiếng Việt đã tạo ra lợi thế so với bảng chữ cái dựa trên kí tự của Trung Quốc trong việc đáp ứng những đòi hỏi của ngành công nghiệp phần mềm. Nhiều công ty Việt Nam đang tiến hành nhập khẩu linh kiện và kí các hợp đồng phụ với các công ty phần mềm nước ngoài. Trong khi chưa phải là một người khổng lồ toàn cầu, xu hướng những người Việt Nam, đặc biệt là những người trẻ tuổi nhanh chóng tiếp thu công nghệ mới và hiện đại, sẽ thúc đẩy thị trường công nghệ thông tin và viễn thông ở Việt Nam, và dần dần tăng khả năng của các công ty Việt Nam trong việc cung cấp cho thị trường thế giới. Trong cuộc đua với Trung Quốc, một điều đáng lưu ý đối với Việt Nam có lẽ không phải là cạnh tranh trực tiếp với những tỉnh đại lục của Trung Quốc, mà là với các tỉnh ven biển hiện đang thu hút lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vốn đầu tư trong nước rất lớn cho các ngành công nghiệp xuất khẩu. Không nhất thiết là phải giành mạng lưới sản xuất từ miền Nam và duyên hải Trung Quốc về Việt Nam, mà các nhà hoạch định ở Việt Nam có lẽ cần tìm hiểu xem làm sao để thiết lập những mạng lưới như vậy trên chính các tỉnh thành của mình. Để làm được điều này, đẩy mạnh trong giáo dục và đào tạo, đồng thời tham vấn các nhà đầu tư để đáp ứng nhu cầu của thị trường là thiết yếu cho sự thành công. Tỷ lệ biết chữ ở Việt Nam vẫn thường được đề cập đến với mức trên 90% thế nhưng chất lượng giáo dục, thậm chí là giáo dục căn bản lại quá kém. David Koh * |




Trước một viễn cảnh tự cất cánh bên cạnh con rồng hàng xóm Trung Hoa, Việt Nam cần phải vạch ra một kế hoạch cho chính mình nếu muốn biến ước mơ thành hiện thực. Những lợi thế, khả năng và những vấn đề phức tạp trong lộ trình đó được tạp chí Kinh tế Viễn đông khái quát trong số ra cuối cùng của năm 2006.