|
Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Để hội nhập thành công vào thể chế kinh tế toàn cầu này, Việt Nam còn những gì cấp bách phải giải quyết? Lanhdao.net xin giới thiệu phần II bài phân tích về những hạn chế trong hệ thống kinh tế Việt Nam, đăng trên tạp chí Institutional Investor số tháng 9/2006. Toàn bộ quan điểm là của tác giả.
Sự phát triển của thị trường chứng khoán
Những cải cách đang góp phần thúc đẩy nền kinh tế nổi lên của Việt Nam cũng đang khơi dậy những hy vọng vào thị trường chứng khoán còn trứng nước của Việt
Nam
. Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (Hostc) - tên chính thức của thị trường chứng khoán Việt
Nam
- đã được thành lập giữa năm 2000.
Hostc hiện là thị trường chứng khoán nhỏ nhất châu Á, chỉ có 37 công ty nhỏ niêm yết cổ phiếu. Chỉ số của Hostc tăng vọt lên vào tháng Giêng 2006 sau khi Vinamilk, công ty sữa lớn nhất Việt
Nam
, niêm yết cổ phiếu của mình. Vinamilk cũng là công ty lớn đầu tiên niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt
Nam
. Vinamilk tham gia thị trường chứng khoán để lập tức tăng gấp đôi tổng vốn của thị trường này, đạt 1,1 tỷ USD. Kể từ khi niêm yết cổ phiếu, tổng vốn của Vinamilk đã tăng lên gấp đôi, đạt 1 tỷ USD, châm ngòi cho một cơn phấn khích mạnh khiến chỉ số của thị trường chứng khoán đến cuối tháng 5 năm nay tăng 80%, đạt 545 điểm. Tóm lại, tổng vốn của thị trường chứng khoán đã tăng vọt từ 250 triệu USD năm ngoái lên 2,5 tỷ USD vào cuối tháng 7 năm nay.
Ngân hàng Thương mại Sài Gòn Thương Tín, hay Sacombank, ngân hàng có vốn đầu tư của cả Ngân hàng Quốc gia ANZ của Australia và Tập đoàn Tài chính Quốc tế (International Finance Corp. - IFC), cũng đã theo chân Vinamilk niêm yết cổ phiếu trên thị trường vào đầu tháng 7. “Lúc đó chúng tôi muốn trở thành ngân hàng đầu tiên niêm yết cổ phiếu trên thị trường”, giám đốc Sacombank Đặng Văn Thanh phát biểu với tạp chí Institutional Investor.
Ngân hàng Thương mại Á Châu tại Tp. Hồ Chí Minh (hiện có tổng tài sản trị giá 1,7 tỷ USD), ngân hàng có vốn đầu tư của ngân hàng Standard Chartered và của IFC, có thể cũng sẽ theo chân Sacombank, cho niêm yết cổ phiếu lần đầu tiên trên thị trường vào năm nay hoặc năm tới. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), một ngân hàng nhà nước, và Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long (HBMD) sẽ cùng chuyển thành công ty cổ phần trong năm nay để chuẩn bị cho việc niêm yết cổ phiếu vào năm 2007.
Trong lúc đó, theo lời ông Vũ Bằng – Phó chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, nhà môi giới chứng khoán lớn nhất Việt Nam, công ty bảo hiểm Bảo Việt, dự kiến cũng sẽ niêm yết cổ phiếu vào tháng 9 năm nay. Cũng theo lời ông Vũ Bằng, Công ty Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam tại Hà Nội, thành lập năm 1995 với tư cách là công ty tái bảo hiểm đầu tiên của Việt Nam, có thể không lâu nữa cũng sẽ niêm yết cổ phiếu của mình. Trong năm tới có thể hai nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động tại Hà Nội là Mobifone và Vinaphone cũng sẽ niêm yết cổ phiếu. Theo ông Bằng, động lực của tất cả những đơn vị tiến hành niêm yết cổ phiếu là khát vọng được “nâng cao uy tín và hình ảnh của mình và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc huy động vốn".
Những tác động của Luật Đầu tư Chứng khoán mới
Khi mà danh sách các công ty dự định tham gia thị trường chứng khoán dài ra thì các nhà đầu tư cũng lại được khuyến khích bởi Luật Đầu tư Chứng khoán mới, dự kiến có hiệu lực vào ngày 1/1/2007. Ông White của công ty đầu tư Merrill Lynch nói, luật này sẽ đưa ra cả củ cà rốt lẫn cây gậy. Tới đầu năm sau, những công ty được niêm yết trên bảng chính sẽ hưởng lợi từ một đợt giảm thuế lớn trong 4 năm. Trong hai năm đầu, bắt đầu từ ngày công ty niêm yết cổ phiếu, công ty đó sẽ không phải nộp thuế cho các khoản thu nhập của mình; trong hai năm tiếp theo, các công ty này sẽ chỉ phải nộp một nửa khoản thuế doanh nghiệp, tức là chỉ phải nộp 28% thu nhập doanh nghiệp. Trong khi đó, những công ty đã có cổ phiếu tại thị trường chủ yếu là giao dịch qua quầy trước lần niêm yết đầu tiên và không phải công khai thông tin sẽ phải tuân theo những quy định tương tự về việc trao đổi thông tin với nhau như những công ty đã được niêm yết trên bảng chính tại thị trường chứng khoán.
Theo dự kiến, Luật chứng khoán mới sẽ dẫn đến việc dịch chuyển từ thị trường giao dịch qua quầy sang thị trường chứng khoán theo quy mô rộng, ông White phát biểu. Ông nói thêm rằng thị trường giao dịch qua quầy lớn hơn đáng kể, với khoảng 2,400 công ty tham gia, hầu hết là các công ty tư nhân, và có lượng giao dịch lớn hơn gấp 7 lần lượng giao dịch trị giá 5 triệu USD/ngày của thị trường chứng khoán chính quy. Mặc dù các mức giá đề xuất được công bố trên phương tiện thông tin đại chúng, hầu hết các hợp đồng được thỏa thuận giữa người bán và người mua – có thể diễn ra ở những nơi như một quán cà phê – và sau đó được báo cáo cho viên chức quản lý cổ phần của công ty.
Việc bắt buộc các công ty giao dịch chứng khoán qua quầy (OTC) tuân thủ những chuẩn mực về trao đổi thông tin với nhau tương tự như những công ty niêm yết chứng khoán trên thị trường chính quy sẽ xóa đi cái mà ông White coi là “một trong những động cơ chính hiện nay đang kìm hãm các công ty trong thị trường giao dịch qua quầy mờ ám”. Ông tin rằng Luật Đầu tư Chứng khoán mới sẽ thay đổi động cơ niêm yết cổ phiếu “ở một mức độ mà nhiều nhà đầu tư nước ngoài không đánh giá cao.”
Để khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư quốc tế, tháng 10 năm ngoái, chính phủ đã tăng mức trần đối với tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài đối với các công ty đã niêm yết cổ phiếu, từ 30% lên 49%. Chính phủ hy vọng rằng càng có nhiều loại sản phẩm cho các nhà đầu tư đầu tư vào thì việc giao dịch trên thị trường chứng khoán sẽ càng trở nên hợp lý hơn. Như chính phủ hy vọng, các nhà đầu tư lẻ đã đẩy giá cổ phiếu năm 2006 lên tận mây xanh và giá cổ phiếu được định trở nên kém hấp dẫn hơn.
Ông White cho biết, giao dịch chứng khoán của Hostc trung bình tăng khoảng 15 lần so với mức lợi nhuận dự kiến vào năm 2007; một số ngân hàng trên thị trường giao dịch qua quầy giao dịch cổ phiếu đắt hơn giá đặt mua 4-5 lần. Citigroup đã giao dịch chứng khoán Việt Nam từ năm ngoái, còn Merrill đã trở thành ngân hàng đầu tư mới nhất của Mỹ được quyền giao dịch các chứng khoán được niêm yết của Việt
Nam
. Công ty J.P. Morgan Chase & Co. cho biết công ty này hiện đang bắt đầu với việc giao dịch các chứng khoán của Việt
Nam
.
Sự ra đời của thị trường trái phiếu công
Trong lúc đó, một thị trường khác đã ra đời tại Việt
Nam
. Tháng 9 năm ngoái Việt Nam đã phát hành trái phiếu chính phủ lần đầu tiên trên thị trường vốn quốc tế, trị giá 750 triệu USD với thời hạn 10 năm và mức lãi suất 7,125% - thấp hơn mức lãi suất của trái phiếu chính phủ của Indonesia và của Philippines lần lượt là 60 điểm (7,75%) và 80 điểm (8,09%). Trái phiếu chính phủ của Việt Nam đã thu hút được tổng số vốn là 4,5 tỷ USD, gấp 6 lần tổng giá trị trái phiếu lúc phát hành (750 triệu USD), do các nhà đầu tư châu Á, châu Âu và Mỹ đặt mua.
Việc phát hành trái phiếu chính phủ của Việt Nam đã đánh dấu một bước ngoặt trong mối quan hệ của nước này với các nhà đầu tư thế giới: Các đại biểu của Việt Nam đã tiến hành những chuyến viếng thăm toàn diện và cung cấp tất cả những dữ liệu để giải thích mà các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm yêu cầu.
Ông Jon Pratt, phụ trách bộ phận các thị trường vốn của ngân hàng đầu tư Credit Suisse tại Hongkong - đơn vị tư vấn duy nhất của trái phiếu chính phủ Việt Nam - nhận định: “Điều này cho thấy Việt
Nam
đang sẵn sàng tiếp đón các nhà đầu tư quốc tế hơn bao giờ hết”. Credit Suisse đã giành phần thắng trong cuộc cạnh tranh với Citigroup - một ngân hàng đã quyết tâm giành được hợp đồng với chính phủ Việt Nam, thể hiện qua việc chủ tịch hội đồng điều hành của Citigroup, Robert Rubin, đã có hai chuyến bay, mỗi chuyến dài 11 tiếng, đến Hà Nội. Ông Pratt nói thêm: “Các nhà đầu tư hiện coi Việt
Nam
là một trong những nền kinh tế thực sự đang lên ở châu Á.”
Cựu thứ trưởng Tài chính Lê Thị Băng Tâm, hiện là chủ tịch hội đồng quản trị Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn nhà nước (SCIC), trả lời phóng viên tạp chí Institutional Investor trong một cuộc phỏng vấn đầu năm nay rằng “chính phủ hiện đang khuyến khích các tổng công ty như Tổng công ty xăng dầu Petro Việt Nam, Tổng công ty Đóng tàu, Tổng công ty điện lực Việt Nam và một số tổng công ty khác phát hành trái phiếu”. Các nhà đầu tư ngân hàng tin rằng việc phát hành trái phiếu chính phủ có thể mở cửa cho một đợt phát hành trái phiếu tương đối ồ ạt của các tổng công ty nhà nước.
Vào tháng 5, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam
đã phát hành đợt trái phiếu đầu tiên trong nước. Được sắp xếp bởi ngân hàng Thượng Hải-Hongkong HSBC, số trái phiếu trị giá 2,1 nghìn tỷ đồng (134 triệu USD) được phát hành với kỳ hạn là 10 năm và 15 năm và mức lãi suất lần lượt là 9,8% và 10,2%. Ông Pratt của ngân hàng Credit Suisse cho biết người của công ty ông đã gặp gỡ với rất nhiều doanh nghiệp nhà nước có ý định phát hành trái phiếu trong tương lai.
Tony Foster, đối tác quản lý tại Hà Nội của công ty luật Freshfields Bruckhaus Deringer phát biểu: “Mọi ngân hàng đầu tư đang làm ăn trên thị trường đều đang xem xét việc đầu tư vào Việt
Nam
. Từ sự hờ hững, họ đang dần sôi lên vì Việt
Nam
”. Sự vươn lên nhang chóng của nền kinh tế Việt Nam cũng đang khiến các công ty đa quốc gia háo hức muốn kiếm lợi nhuận từ lực lượng lao động rẻ, có trình độ văn hóa cao và năng động của Việt
Nam
. Hồi tháng 2, Tập đoàn Intel, trụ sở tại
Santa-Clara , California
, đã công bố kế hoạch xây dựng hệ thống nhà máy lắp ráp và kiểm tra chip vi tính trị giá 300 triệu USD tại thành phố Hồ Chí Minh. Công ty này sẽ tuyển dụng 1.200 nhân công.
Ông Freund (công ty đầu tư chứng khoán Mekong Capital) nói: “Rất nhiều công ty không muốn phụ thuộc 100% vào thị trường Trung Quốc, còn Việt Nam thì được coi là lựa chọn thay thế tốt nhất trong số các nước châu Á”. 5,8 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chảy vào Việt
Nam
trong năm 2005, so với mức 2 tỷ USD năm 2001. Các nhà đầu tư cho rằng cụ thể là thị trường ngân hàng đã chứng tỏ sức hấp dẫn đối với vốn đầu tư nước ngoài, mặc dù hệ thống ngân hàng lạc hậu là một trong những mục tiêu quan trọng của cải cách. Nợ khó đòi chiếm từ 15-20% tổng nợ của Việt
Nam
. Mặc dù chính phủ muốn nỗ lực cải cách, một bản báo cáo của Ngân hàng Thế giới công bố năm ngoái đã viết: “Không có gì chắc chắn rằng những biện pháp tái cơ cấu đã khiến cho các khoản nợ này đem lại lợi nhuận…Có khả năng là những khoản nợ mới chưa được sử dụng đang được tạo ra không ít thì nhiều cùng tốc độ với việc giải quyết nợ (đúng hơn là được xóa nợ), nếu không nói là với tốc độ nhanh hơn”.
Tuy nhiên, mối quan tâm của các nhà đầu tư đã bắt đầu chuyển dịch. Họ tránh mua cổ phiếu nhà nước và thích mua cổ phiếu của các ngân hàng cổ phần nhỏ hơn và đang làm ăn tốt hơn. Sau khi Ngân hàng ANZ mua 10% cổ phần (27 triệu USD) của Sacombank hồi tháng 3 năm 2005, Ngân hàng Standard Chartered đã mua 8,56% cổ phần của Ngân hàng Thương mại Á châu với giá 22 triệu USD. Tháng Giêng năm nay, Ngân hàng HSBC cũng đã mua 10% cổ phần của Ngân hàng cổ phần Kỹ thương (Techcombank) với giá 17,3 triệu USD. Vào tháng 3, Tập đoàn Ngân hàng Hoa kiều của Singapore cũng đã mua 10% cổ phần của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam (VP Bank) với giá 15,7 triệu USD.
Thị trường ngân hàng có một sức hấp dẫn “trêu ngươi” đối với các nhà đầu tư quốc tế. Tổng tài sản của Ngân hàng Thương mại Á châu (ACB) đã tăng vọt từ 638 triệu USD trong năm 2003 lên 1,7 tỷ hiện nay. Giám đốc kiêm chủ tịch hội đồng quản trị của ACB, Lý Xuân Hải, tin rằng tài sản của ngân hàng có thể tăng lên tới mức 5 đến 6 tỷ USD trong 5 năm. Ông nói: “Điều đó có thể hơi tham vọng một chút, những chúng tôi là một ngân hàng có tham vọng. Tiền năng của thị trường Việt
Nam
vô cùng lớn. Tổng vốn trong hệ thống ngân hàng hiện chỉ chiếm 63% GDP, so với mức 100-150% GDP của các nước trong khu vực”.
Ông Adil Ahmad, phụ trách về quan hệ với đối tác của ngân hàng ANZ, nói thêm rằng kể từ khi ông đến Việt Nam năm 2000, tổng vốn của ngành ngân hàng đã tăng lên gấp 4 lần, từ khoảng 13 tỷ USD lên xấp xỉ 54 tỷ USD hiện nay.
Nhiệm vụ tư nhân hóa và phát triển cơ sở hạ tầng
Trong khi cố gắng nhanh chóng nâng cấp khu vực ngân hàng và khai thác làn sóng quan tâm tới đầu tư ở Việt Nam của các nhà đầu tư nước ngoài, chính phủ cũng phải tiếp tục thúc đẩy cải cách ở hai mặt trận cơ bản là tư nhân hóa và phát triển cơ sở hạ tầng.
Ngân hàng Thế giới cho biết cho đến nay, hơn 2000 doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam đã chuyển thành công ty cổ phần. Tuy nhiên, báo cáo của tổ chức này nhận định rằng “hầu như không có công ty nào trong số đó đã niêm yết cổ phiếu.” Tháng 6 năm ngoái chính phủ đã hướng 178 công ty cổ phần (mà phần lớn cổ phần thuộc sở hữu nhà nước) vào việc niêm yết cổ phiếu, cùng với 75 doanh nghiệp nhà nước khác. Nhưng báo cáo của WB chỉ ra rằng “diễn tiến của việc niêm yết này rất chậm chạp”. Không ai thực sự biết nguyên nhân của điều này. WB nhận định: “Một lý do có thể là lịch trình mà chính phủ đưa ra không phù hợp với kế hoạch kinh doanh của các doanh nghiệp”.
Việc nâng cấp cơ sở hạ tầng đang diễn ra không nhanh đủ để làm vừa lòng các nhà đầu tư; đồng thời, theo một bản điều tra của WB năm 2005, cứ 5 nhà đầu tư thì có 1 người coi việc thiếu thống cơ sở hạ tầng là trở ngại đối với đầu tư. Nhu cầu về điện cũng tăng lên, 15-20% mỗi năm; các cảng gần như quá tải, đặc biệt là ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh; còn đường xá ở những thành phố lớn ngày càng tắc nghẽn. Tuy nhiên, chính phủ đã có những tiến bộ to lớn trong việc nâng cấp cơ sở hạ tầng trong suốt môt thập niên qua, chi tới khoảng 9% của số tiền 50 tỷ USD từ GDP. Con số này được dự đoán là sẽ tăng khoảng 11% hàng năm từ nay tới 2010.
Hiện chính phủ đang nhắm vào việc tăng nhanh số vốn thu được từ khu vực tư nhân, các nhà đầu tư nước ngoài và các kênh tài chính khác. Chính phủ đã mở cửa cho những hợp đồng BOT, trong đó nhà đầu tư nước ngoài xây dựng và vận hành các nhà máy điện hay thu phí ở các tuyến đuờng họ xây, sau đó trả những công trình này lại cho chính phủ sau một khoảng thời gian đã thỏa thuận trước. Kế hoạch chính thức của chính phủ là phát hành trái phiếu xây dựng cơ sở hạ tầng trị giá khoảng 4 tỷ USD vào năm 2010, nhưng các nhà kinh tế tư nhân cho biết họ nghe nói chính phủ có thể tăng giá trị của đợt trái phiếu đó lên khoảng 75%. Tuy nhiên, các nhà đầu tư lo lắng không biết nền hành chính quan liêu nặng nề có thể tiến hành các dự án lớn đủ nhanh hay không.
Khi mà việc Việt Nam gia nhập WTO đã gần như chắc chắn (hoàn tất – ND), Việt
Nam
sẽ phải chịu những áp lực, và việc nâng cấp cơ sở hạ tầng có thể lại trở thành phần dễ làm. Thách thức lớn hơn sẽ là việc nâng cấp các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả, những doanh nghiệp, theo ông Thayer, sẽ “rất có khả năng thất bại” nếu họ không thể nâng cấp công nghệ và tìm kiếm các đối tác quốc tế.
Cải tổ hệ thống tài chính, ngân hàng
Khi hạn chế đầu tư vào các lĩnh vực như ngân hàng, dịch vụ, phân phối và viễn thông, “Việt
Nam
như một tay chơi đang giữ quân bài trước ngực. Giờ thì Việt
Nam
phải ngửa bài và đứng trước nguy cơ bị đánh bại bởi ai đó hoạt động hiệu quả hơn.”, ông Thayer phát biểu. Tuy nhiên tin tốt là những áp lực như vậy có thể hướng Việt
Nam
tới những tiến bộ hơn nữa. Ông Thayer kết luận: “Thậm chí nếu Việt Nam không đạt được những mục tiêu của mình, Việt
Nam
cũng sẽ tiến những bước xa hướng tới những mục tiêu đó".
Liệu các ngân hàng Việt
Nam
có sẵn sàng cho những thay đổi?
Để trở nên thịnh vượng, chính phủ Việt
Nam
phải cải tổ hệ thống ngân hàng lỗi thời của mình. Mang gánh nặng nợ khó đòi, các ngân hàng phải gánh chịu di sản của thời bao cấp và những hệ quả của chính sách cho vay của chính phủ còn để lại đến nay. Hệ thống tài chính cũng thiếu khung pháp lý đầy đủ cho phép các ngân hàng tịch thu tài sản của những con nợ khó đòi.
Hiện đại hóa là tối cần thiết khi Việt
Nam
chuẩn bị sẵn sàng đề gia nhập WTO. Trong bản “Báo cáo Phát triển Việt Nam 2006”, công bố tháng 12 năm ngoái, WB cảnh báo rằng, sau khi gia nhập WTO, những ngân hàng Việt Nam mà không tiến hành những thay đổi cần thiết sẽ không thể cạnh tranh được với các ngân hàng nước ngoài tại thị trường nội địa. Bản báo cáo của WB nhận định: “Nếu không có quyết tâm cải cách trong ngành ngân hàng, tình trạng của các ngân hàng thương mại nhà nước chắc chắn sẽ xấu đi”.
Các quan chức chính phủ đã cảm nhận được áp lực. Ông Đặng Thanh Bình, Phó thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam - ngân hàng trung ương của Việt
Nam
– nói: “Thời hạn cuối cùng để mở cửa thị trường ngân hàng cho nhà đầu tư nước ngoài là năm 2010. Đó là mục tiêu chúng tôi đặt ra đối với việc mở cửa không hạn chế lĩnh vực ngân hàng – và là lựa chọn tối thiểu để gia nhập WTO".
Mặc dù vậy, thay đổi sẽ không diễn ra một cách dễ dàng. Giống như trường hợp khu vực ngân hàng của Trung Quốc, khu vực ngân hàng của Việt Nam thống trị bởi 4 ngân hàng nhà nước: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Vietcombank, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam. Bốn ngân hàng này nắm giữ khoảng 75% tổng tài sản của khu vực ngân hàng (khoảng 54 tỷ USD). Bên cạnh đó còn có có Quỹ Trợ cấp Phát triển, có chức năng cung ứng trợ cấp chính sách cho chính phủ. Là chủ nợ của khoản tiền 76,93 nghìn tỷ đồng (4,88 tỷ USD), quỹ này hiện là đơn vị cho vay lớn thứ hai của Việt
Nam
. Ngoài ra còn có 36 ngân hàng hàng thương mại cổ phần – những ngân hàng tư nhân trong đó nhà nước chỉ giữ một lượng nhỏ cổ phần – và 4 ngân hàng liên doanh. Có 27 chi nhánh của các ngân hàng nước ngoài được đặt tại Việt
Nam
.
Trong những năm gần đây, chính phủ đã rót 10 nghìn tỷ đồng vào 4 ngân hàng hàng lớn để củng cố quỹ vốn cho những ngân hàng này. Giờ thì chính phủ đang nói cứng. Theo bà Băng Tâm, “các ngân hàng thương mại phải tự chịu trách nhiệm, và họ không được phiép vay tiền từ ngân sách nhà nước”.
Bà Băng Tâm nói thêm, chính phủ muốn thu hút các nhà đầu tư nước ngoài chiến lược đầu tư vào các ngân hàng nhà nước. Hiện nay, bất kỳ nhà đầu tư nước ngoài riêng lẻ nào cũng có thể sở hữu tới 10% cổ phần của 1 ngân hàng Việt Nam; tính tổng thể, nhà đầu tư nước ngoài có thể sở hữu tới 30%. Mức sở hữu trần của nhà đầu tư nước ngoài dự kiến sẽ tăng lên mức 20% khi Việt
Nam
gia nhập WTO.
Hiện nay, Ngân hàng trung ương chỉ đóng vai trò là một cánh tay của chính phủ hơn một chút, vì chính Quốc hội, chứ không phải ngân hàng trung ương, mới là người đưa ra những đề xuất về chính sách tiền tệ. Việc Ngân hàng Nhà nước đưa ra một lộ trình cải cách hệ thống ngân hàng năm ngoái sẽ tạo ra một ngân hàng trung ương phù hợp với những hoạt động tốt nhất của thế giới. Tuy nhiên, theo phó thống đốc Đặng Thanh Bình, “để cải cách Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam
cần phải có một sự thay đổi đáng kể về tư duy".
Kevin Hamlin
Theo Institutional Investor, tháng 9/2006
Biên dịch: Hồng Ngọc |