| Hệ thống cảnh báo sớm các khủng hoảng tài chính |
|
|
|
| Thứ ba, 13 Tháng 7 2010 01:09 |
|
Đứng trước sự sa sút của nền kinh tế và các khủng hoảng tài chính, các nhà lãnh đạo cũng như các nhà hoạch định chính sách luôn phải đối diện với câu hỏi: làm thế nào để dự đoán được các hiện tượng này để ngăn ngừa hoặc giảm thiểu tác động của nó trong tương lai. Dominic Barton, Roberto Neweill, và Gregory Wilson thuộc Tập đoàn McKinsey đã đưa ra 10 chỉ số quan trọng để nhận dạng các dấu hiệu khủng khoảng mà các nhà quản lý cần kiểm soát; quan trọng cả về mức độ và xu hướng.
Rạng sáng ngày 02 tháng 07 năm 1997, các chủ nhà băng hàng đầu Băng Cốc bị đánh thức và được triệu tập họp lúc 6h30 sáng tại toà nhà đối diện Cung điện Ban- khum-pron, tên gọi thường được biết đến của trụ sở Ngân hàng Thái Lan lộng lẫy. Khi các chủ nhà băng tập trung đông đủ với vẻ lo lắng, họ được thông báo rằng sau nhiều tháng kháng cự, Chính phủ buộc phải dỡ bỏ mức neo giá đồng bạt Thái với đồng đô la Mỹ. Khi các thị trường mở cửa vài giờ sau đó, tất cả đều hoảng loạn. Đồng bạt giảm 15% so với đồng đô la Mỹ, báo trước một cuộc khủng hoảng kinh tế càn quét Thái Lan và những nước còn lại ở Châu Á ngay sau đó, tác động tới cả thế giới. Trái với những kịch tính sau sự đổ vỡ của nền kinh tế Thái Lan, các yếu tố của cơn bão đã dần hình thành một cách lặng lẽ trong nhiều năm. Một dấu hiệu sớm của khủng hoảng là việc Ngân hàng Thương mại Băng-cốc sụp đổ giữa năm 1996. Thất bại của ngân hàng này đã phơi bày các hoạt động ngân hàng kém hiệu quả tồn tại trong nhiều năm. Tiếp đó, Somprasong Land, một công ty từng chuyển đổi hàng ngàn héc-ta đầm lầy thành nhà ở ven đô, đã trở thành công ty bất động sản đầu tiên vỡ nợ trái phiếu quốc tế, kéo theo các xì-căng-đan và thất bại khác. Không lâu sau, các giám đốc ngân hàng nước ngoài bắt đầu thu hồi nợ. Các quỹ đầu tư mạo hiểm và các nhà đầu tư khác, cảm nhận được sự suy thoái của nền kinh tế, bắt đầu bán ra đồng bạt. Các công ty của Thái Lan, e sợ rằng đồng tiền sắp bị phá giá, đồng loạt đổi bạt lấy đô la Mỹ. Đồng bạt Thái rớt giá ngay sau đó. Trong khi đó, cả Standard & Poor và Moody đều không tiên đoán trước được mức độ trầm trọng của cơn bão tài chính Thái Lan. Ngay cả IMF, vào đêm trước khi xảy ra khủng hoảng mùa hè 1997, vẫn đánh giá cao sự “tăng trưởng kinh tế đáng ghi nhận” và “quá trình tăng trưởng kinh tế vĩ mô liên tục” của Thái Lan. Đến mùa thu 1997, tất nhiên, các dự đoán lạc quan này của họ đều bay theo gió. Các nhà quan sát dày dặn kinh nghiệm - với nhiệm vụ là xác định vấn đề trước khi chúng biến thành khủng hoảng - đều không nhận biết được các dấu hiệu khủng hoảng ở Thái Lan. Họ cũng bỏ qua các dấu hiệu này ở các trường hợp khác như chúng ta đã thấy, ví dụ như cuộc khủng hoảng tài chính năm 1994-1995 tại Mexico.
Làm thế nào mà các chuyên gia lại tính sai như vậy? Tại sao họ lại không thể nhìn thấy một cơn bão tài chính đang tiến đến gần? Chúng tôi tin rằng nguyên nhân là do đa số các chuyên gia chỉ dựa trên sự suy đoán thông thường, đó là theo dõi sự lựa chọn của Chính phủ về tỷ giá hối đoái, quản lý tài chính và tổng lượng tiền để nhận biết một cuộc khủng hoảng đang tới gần. Chắn chắn rằng các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô đóng vai trò quan trọng, vì cuộc khủng hoảng diễn ra ở Arghentina năm 2002 là minh chứng rõ ràng: Cuộc khủng hoảng năm 2001-2002 ở Arghentina phát sinh do tình hình tài chính bất ổn, dẫn tới việc Chính phủ không thể trả 141 tỷ đô la đang nợ, việc phá giá mạnh đồng Vì lý do này, chúng tôi khẳng định rằng điều tiết kinh tế vi mô - với các số đo tương đối đơn giản - song song với việc theo dõi các chỉ số kinh tế vĩ mô sẽ không những giúp tìm ra nguyên nhân của khủng hoảng mà còn chỉ ra nơi khủng hoảng sẽ tấn công và thậm chí khoảng thời gian nó có thể tấn công. Khuôn mẫu hình thành khủng hoảng Không ai có thể tranh luận rằng khủng hoảng tài chính dễ dự đoán. Như một cựu quan chức của IMF thừa nhận, “IMF đã dự đoán 15 so với sáu khủng hoảng vừa rồi.” Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng không thể không dự đoán được chúng, đặc biệt là khi phần lớn các cuộc khủng hoảng tài chính có chung một khuôn mẫu. Mười dấu hiệu của khủng hoảng Cần có sự kết hợp của cả nghệ thuật và khoa học để thấy được các dấu hiệu cảnh báo khủng hoảng tài chính. Sau đây là 10 chỉ số quan trọng mà các nhà quản lý cần kiểm soát; quan trọng cả về mức độ và xu hướng. Khi một vài trong số các chỉ số này bắt đầu đi sai hướng cùng một lúc, có thể một cuộc khủng hoảng đang nhen nhóm. 1. Giá trị bị đổ vỡ ở khối tư nhân. Khi các công ty không kiếm ra đủ tiền để trang trải cho chi phí của số tiền họ đi vay, thì một cuộc khủng hoảng có thể đang tiềm tàng. Đèn đỏ bật sáng khi lợi nhuận của phần lớn các công ty trong nước đều ít hơn chi phí trung bình về vốn. Điều này đúng với mọi khủng hoảng chúng tôi đã nghiên cứu. 2. Tỷ lệ trang trải lãi suất. Nếu tỷ lệ giữa dòng tiền mặt và các khoản thanh toán lãi của một công ty giảm xuống dưới 2, công ty đó có thể đang phải đối mặt với khủng hoảng thanh khoản; nếu điều này xảy ra ở các công ty hàng đầu trong nước, một cuộc khủng hoảng rộng lớn có thể sắp xảy ra. 3. Mức lợi nhuận của các ngân hàng. Doanh thu tài sản trên toàn hệ thống hàng năm nhỏ hơn 1% đối với các ngân hàng thương mại và/hoặc biên độ lãi suất ròng hàng năm nhỏ hơn 2% thường là các dấu hiệu của một cuộc khủng hoảng. 4. Danh mục cho vay tăng nhanh. Khi danh mục cho vay của ngân hàng phát triển nhanh hơn 20% trong vòng hơn 2 năm, chúng tôi thấy rằng nhiều khoản nợ trở thành nợ xấu và dẫn đến khủng hoảng tài chính. 5. Tiền gửi giảm hoặc tỷ lệ tiền gửi tăng nhanh. Khi những người gửi tiền bắt đầu rút tiền khỏi các ngân hàng địa phương, đặc biệt là trong vòng 2 quý liên tiếp, hãy cảnh giác. Hành động này thường là dấu hiệu của một cuộc khủng hoảng. 6. Các khoản cho vay không có khả năng hoàn trả. Việc cho vay không có sự tư vấn tốt thường kết thúc bằng việc gia tăng các khoản cho vay không có khả năng hoàn trả. Khi các khoản vay này vượt quá 5% của tổng số tài sản ngân hàng, đèn cảnh báo nên chuyển sang màu đỏ. Vấn đề nằm ở chỗ các ngân hàng thường không công bố các khoản cho vay không có khả năng hoàn trả cho tới khi xảy ra khủng hoảng. Thêm vào đó, mỗi nước có các định nghĩa khác nhau về các khoản cho vay không có khả năng hoàn trả. 7. Tỷ lệ vay trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Khi một ngân hàng thương mại thiếu vốn, việc đi vay từ thị trường liên ngân hàng, hoặc đưa ra lãi suất cao hơn ở ngoài thị trường nhằm thu hút vốn thì thị trường về bản chất đang bỏ một lá phiếu không tín nhiệm đối với ngân hàng. Điểm yếu của một ngân hàng có thể dẫn tới lây lan hàng loạt. 8. Cơ cấu thời hạn cho vay của ngân hàng nước ngoài. Nhiều công ty ở các thị trường mới xuất hiện vay từ các ngân hàng nước ngoài tiền đô Mỹ, Euro hoặc Yên để làm giảm lãi suất. Khi hơn 25% của khoản nước ngoài cho một nước nhất định vay có thời hạn ít hơn một năm, cần bật đèn cảnh báo vì các khoản cho vay đó rất dễ bị rút lại nếu xảy ra khủng hoảng. 9. Tăng trưởng nhanh và sự sụp đổ đồng tiền quốc tế và các dòng đầu tư. Khi các nhà đầu tư nước ngoài, thông qua vốn chủ sở hữu, trái phiếu, và các khoản cho vay ngân hàng, đổ tiền vào một nước mà không có hiệu quả hoặc quản lý kém, kết quả là dư nợ lớn có thể dẫn đến khủng hoảng. Các nguồn đầu tư như vậy có thể tạo điều kiện để khủng hoảng xảy ra. 10. Bong bóng giá tài sản. Bong bóng và nổ bong bóng giá tài sản diễn ra trên toàn thế giới nhưng đặc biệt hay xảy ra ở các thị trường mới nổi do các thị trường tài sản tại đây hoạt động kém hiệu quả và tâm lý các nhà đầu tư dễ thay đổi. Dominic Barton, Roberto Neweill, và Gregory Wilson Về các tác giả - Dominic Barton là Chủ tịch của Tập đoàn McKinsey tại Châu Á. - Roberto Neweill nguyên là giám đốc ở văn phòng Miami; - Greg Wilson là một trong những người đứng đầu văn phòng ở Washington, DC. Ngày 19/9/2008, Dominic Barton đã có bài thuyết trình về các đề tài nóng mà các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm tại buổi hội thảo "Lãnh đạo doanh nghiệp trong thời kỳ khủng hoảng”, tổ chức tại Khoa Quản trị kinh doanh, Đại học Quốc gia Hà Nội. |




